Khúc tráng ca của một thế hệ vì miền Nam
Hơn một vạn cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân đã lên đường chi viện cho chiến trường miền Nam. Họ đến từ nhiều miền quê, nhiều lứa tuổi, nhiều lĩnh vực công tác khác nhau, nhưng đều mang chung một lý tưởng: sẵn sàng cống hiến tuổi xuân vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc.
Có những chàng trai vừa tròn mười tám tuổi đã tình nguyện rời quê hương. Có những cô gái tuổi đôi mươi ngày đêm làm báo vụ, cơ yếu, thông tin giữa đại ngàn. Có những cán bộ lãnh đạo giàu kinh nghiệm, những giáo viên, bác sĩ, y tá, kỹ sư... tất cả đều khoác ba lô lên đường theo tiếng gọi của đất nước.
Những năm đầu, để giữ bí mật, nhiều cán bộ phải thay tên, đổi họ, sử dụng bí danh và giấu kín với gia đình về nhiệm vụ thật sự. Người thì nói đi học ở nước ngoài, người nói đi công tác đặc biệt. Không ít thanh niên còn tự khai tăng tuổi để được lên đường khi Tổ quốc cần.
Mỗi người ra đi là một câu chuyện khiến người nghe xúc động.
Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn không thể quên hình ảnh những nữ chiến sĩ báo vụ. Sau những cơn sốt rét triền miên, có người chỉ còn nặng hơn hai mươi kilôgam, thân hình gầy gò như một đứa trẻ. Thế nhưng vừa khỏi bệnh, họ lại xin trở về bên máy thu tín hiệu, tiếp tục truyền đi những thông tin mật phục vụ cách mạng.
Ông cũng nhớ mãi câu chuyện của Trung tá Đoàn Trọng Cách. Ngày lên đường nhập ngũ, cậu thanh niên mười tám tuổi không có nổi một bộ quần áo lành lặn. Mẹ thương con, chỉ mong giữ con ở nhà thêm một năm để may cho con chiếc quần mới và cũng để tính chuyện dựng vợ, bởi người anh cả đã vào chiến trường, chưa biết ngày trở về. Nhưng trước vận mệnh của đất nước, chàng trai trẻ vẫn quyết tâm lên đường, gửi lại sau lưng tình mẹ và mái ấm gia đình.
Không chỉ đưa cán bộ trực tiếp chiến đấu vào Nam, lực lượng Công an còn cử những giảng viên ưu tú của Trường Công an Trung ương vào chiến trường mở các lớp đào tạo ngay giữa rừng sâu. Những lớp học ấy vô cùng đặc biệt: không bảng đen, không bục giảng, không thời khóa biểu cố định. Khi bom ngừng rơi, địch tạm rút, thầy và trò lại tranh thủ học từng bài nghiệp vụ. Trong suốt 11 năm, hàng nghìn cán bộ an ninh tại chỗ đã được đào tạo, trở thành lực lượng nòng cốt bảo vệ cách mạng ở miền Nam.
Cùng với đó là đội ngũ y, bác sĩ cũng vượt Trường Sơn vào chiến trường. Trong điều kiện vô cùng thiếu thốn, họ vừa cứu chữa thương bệnh binh, vừa trồng sắn, tải gạo, dựng lán, thậm chí trực tiếp cầm súng khi địch càn quét. Không có đủ trang thiết bị y tế, họ sáng tạo nhiều phương pháp cứu chữa, như tận dụng nước mưa hứng bằng ni-lông để pha chế dịch truyền cứu sống thương binh. Mỗi người thầy thuốc không chỉ chữa bệnh mà còn sẵn sàng lấy thân mình che chở bệnh nhân trước bom đạn.
Điều giúp những người chiến sĩ vượt qua tất cả không chỉ là ý chí mà còn là tình đồng chí và nghĩa đồng bào.
Trong hồi ký viết ở tuổi 96, Thiếu tướng Phan Văn Lai xúc động kể về những người dân bình dị ở Trị Thiên – Huế đã cưu mang mình giữa những trận càn ác liệt. Các bà La Thị Giáng, Lê Thị Hạnh rồi gia đình ông Hoàng Sa đã bất chấp roi vọt, tra tấn và cả cái chết để che giấu cán bộ cách mạng trong những căn hầm bí mật. Dẫu bị địch đánh đập dã man, đe dọa đốt nhà, họ vẫn nhất quyết không khai báo.
Với Thiếu tướng Phan Văn Lai, chính tình đồng chí và nghĩa đồng bào ấy đã giúp ông cùng biết bao đồng đội sống sót để tiếp tục chiến đấu cho đến ngày toàn thắng.
Cuộc kháng chiến khép lại, nhưng những mất mát vẫn còn đó. Trong lực lượng Công an chi viện chiến trường miền Nam, 909 cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, 46 đồng chí bị địch bắt, tù đày, hàng trăm người mang trên mình thương tật, di chứng chất độc hóa học và bệnh tật suốt cuộc đời.
Họ đã gửi lại tuổi thanh xuân nơi chiến trường để đổi lấy mùa xuân thống nhất của dân tộc. Những câu chuyện ấy mãi là bản hùng ca bất diệt, nhắc nhở các thế hệ hôm nay và mai sau về lòng yêu nước, tinh thần quả cảm và sự hy sinh thầm lặng của những người chiến sĩ Công an nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


