Khúc tráng ca giữ đất và tiếng nổ rung chuyển Cầu Đôi
Cựu binh Nguyễn Văn Thống và hồi ức trận chiến đảo Gạc Ma-1988
Là nhân chứng lịch sử, cựu binh Nguyễn Văn Thống (Quảng Bình) khẳng định, kể cả trong mơ anh vẫn luôn nhớ về ngày kinh hoàng 14/3/1988.
“Hình ảnh lính Trung Quốc xả súng sát hại 64 đồng đội của tôi mãi ăn sâu vào trí nhớ mà có lẽ đến chết vẫn chưa thể quên. Với tôi, hành động xả súng của quân Trung Quốc khiến 64 đồng đội nằm lại trong biển sâu là một cuộc thảm sát hèn hạ”, anh Thống giận dữ.
Đã hơn 30 trôi qua, nhưng từng sự kiện trên đảo Gạc Ma ngày đó là nỗi ám ảnh, là ký ức kinh hoàng mà cựu binh Nguyễn Văn Thống “muốn quên cũng không thể nào quên”.
Trầm tư, nhìn về phía xa, anh Thống kể: “Đúng 7h30 ngày 14/3/1988, tàu HQ. 604 bị quân Trung Quốc bắn chìm khiến nhiều người lính Hải quân của ta trên tàu hy sinh.
Chỉ sau vài phút, tàu chìm sâu, tôi cố gắng lấy hơi và bơi lên khỏi mặt nước. Sau đó tôi bám vào được một thanh gỗ, trôi nổi trên biển, cùng một số đồng đội. Một lúc sau chúng tôi phát hiện một chiếc thuyền nhỏ của Trung Quốc chạy trên biển nhưng hễ cứ thấy người lính nào của ta nổi lên là bắn.
Trong lúc trôi lênh đênh ở biển, tôi gặp được anh Đông (cựu binh Gạc Ma 1988 Lê Văn Đông), cũng là người Quảng Bình. Hai chúng tôi lênh đênh trên biển thì gặp tàu Trung Quốc, chúng đưa dây lôi chúng tôi lên tàu và bắt làm tù binh. Ngâm nước nhiều giờ đồng hồ, vết thương nặng và mất máu nhiều, khi lên tàu Trung Quốc, tôi bất tỉnh”.
Sau đó, Nguyễn Văn Thống và 8 đồng đội khác bị thương được đưa đến bệnh viện của Hạm đội Hải Nam để chăm sóc và băng bó vết thương. Kể từ đây, thay vì đấu tranh trên biển, các chiến sĩ phải đấu trí với kẻ thù trong nhà giam. Quân Trung Quốc tìm mọi cách tách các chiến sĩ ra, đưa về những phòng biệt giam để hỏi cung, khai thác thông tin.
Những năm tháng phải sống trong tù ngục ở Trung Quốc có lẽ là khoảng thời gian “sống mà như chết” của những người lính Việt Nam.
Nhiều ngày mê man bất tỉnh, vết thương của Nguyễn Văn Thống nhiễm trùng và bốc mùi hôi thối khiến lính Trung Quốc phải đưa anh vào khu vực cách ly.
“Tỉnh dậy, tôi được một bác sĩ đề nghị phải cắt bỏ tay chân thì mới giữ được mạng sống. Nghe xong tôi đáp “chết thì chết, đồng đội đã hy sinh còn thân xác này sống trong bộ dạng đó làm gì”. Bác sĩ Trung Quốc đổi thuốc điều trị và sát trùng vết thương cho tôi. 4 ngày sau, họ thông báo tôi không phải cắt bỏ tay chân”, cựu binh Gạc Ma kể.
Bị thương nặng nên mọi sinh hoạt của Nguyễn Văn Thống đều trông chờ vào đồng đội tận tình hỗ trợ. Nửa năm sau, ông mới bình phục hoàn toàn.
Trong suốt thời gian bị giam cầm, ông và các đồng đội thường xuyên bị lính Trung Quốc gây gổ và xảy ra xô xát. Họ đều cho rằng không sớm thì muộn cũng sẽ chết nơi đất khách quê người.
“Những ngày sống bị giam lỏng là chuỗi ngày buồn bã, từng diễn biến xảy ra, nỗi nhớ gia đình tôi đều gửi gắm vào những trang bút. Tiếc thay, sau nhiều năm chúng đã bị thất lạc”, ông kể.
Trong những năm đầu, lính Việt bị quân Trung Quốc mang đi hỏi cung để tìm hiểu về những người giữ chức vụ quan trọng trong quân đội Hải quân. Hàng trăm bài báo xuyên tạc bằng tiếng Việt “của những người phản quốc” được đưa vào phòng giam của các chiến sĩ.
“Nhận những bài báo ấy, chúng tôi không đọc, thậm chí là xé toạc hoặc đốt trước mặt cai ngục. Mình như cá nằm trên thớt rồi nên chúng tôi không còn sợ gì nữa. Có đồng đội còn đánh cai ngục, cãi nhau với thông dịch viên của Trung Quốc”, ông Thống kể lại.
Cuối năm 1990, đầu năm 1991 Hội chữ thập đỏ Quốc tế biết tin nên tìm đến nhà tù tại bán đảo Lôi Châu để thăm hỏi các chiến sĩ của ta đang bị giam giữ.
Lúc này những người lính Gạc Ma bị Trung Quốc bắt giam mới có thể liên lạc được với gia đình. Bức thư đầu tiên họ được gửi về gia đình ngắn ngủi và bị phía Trung Quốc kiểm soát nghiêm ngặt. Mỗi người chỉ được viết không quá 25 chữ trên tờ giấy chỉ vỏn vẹn bằng bàn tay.
Ngày 2/9/1991, lính Việt Nam mới được phía Trung Quốc trả tự do, rời nhà giam ở bán đảo Lôi Châu về Việt Nam đoàn tụ với gia đình qua cửa khẩu Hữu Nghị.
Sau hơn 1.200 ngày trong nhà tù Trung Quốc, những người lính Gạc Ma luôn đau đáu ước mong trở về quê hương. Chỉ biết về lệnh trao trả trước hai ngày, anh Thống nhớ lại cảm xúc khi đó: “Anh em mừng lắm. Đêm đó chúng tôi không ngủ, chỉ mong trời sáng để trở về”.
Ông Thống cũng như 8 đồng đội của mình không hề biết rằng ở quê nhà cha mẹ và người thân đã nhận giấy báo tử. Ngày bị bắt, đồng đội ngỡ Nguyễn Văn Thống đã hy sinh nên làm giấy báo tử gửi về gia đình. Sau đó, gia đình tổ chức ma chay và lập bàn thờ cho ông.
“Mãi sau này, khi được Hội Chữ thập đỏ Quốc tế đến thăm và giúp gửi thư về thì gia đình mới biết chúng tôi còn sống và đang bị bắt làm tù binh tại Trung Quốc”, anh Thống cho hay.
Nhớ lại ngày về nước, anh Thống khóe mắt rưng rưng nước: “Trở về trong bộ dạng là một người thương binh nặng tôi buồn lắm, không biết phải làm gì để báo hiếu với bố mẹ.
Ngày đó, đồng đội được về sum họp với gia đình sớm còn tôi phải ở lại điều trị ở bệnh viện dành cho lính Hải quân tại Hạ Long. Phải mất gần 3 tháng sau tôi mới được về với gia đình. Ngày về tôi được dân làng ra đón đông lắm. Nước mắt tôi tuôn trào khi được ôm chầm lấy bố m
Câu chuyện về những người lính Gạc Ma anh hùng năm ấy cứ dài mãi, miên man theo những lời kể.
Hơn 30 năm ngày các chiến sĩ hy sinh vì Tổ quốc, những người đồng đội luôn nhắc nhớ những máu xương các anh đã đã đổ xuống vì đất mẹ. Các anh hãy yên nghỉ, hình ảnh các anh sẽ không bao giờ bị lãng quên.



