KHÚC TRÁNG CA GIỮA LỬA ĐẠN
Có những con người đi qua chiến tranh bằng cả tuổi xuân, mang trên vai máu lửa của một thời dân tộc đứng giữa ranh giới mất còn. Họ không sống cho riêng mình mà sống bằng lý tưởng, bằng niềm tin rằng: đất nước nhất định phải độc lập, nhân dân nhất định phải được tự do. Cụ Nguyễn Văn Bảo là một con người như thế.
Năm nay đã bước sang tuổi 81, nhưng mỗi khi nhắc về những năm tháng chiến đấu, giọng cụ vẫn vang lên đầy khí phách của một người lính năm xưa. Đó không chỉ là ký ức, mà là cả một thời bi tráng của dân tộc còn in hằn trong tim người chiến sĩ già.
Năm 1961, khi chiến tranh phủ bóng khắp miền Nam, chàng thanh niên Nguyễn Văn Bảo đã rời mái nhà quê nghèo để bước vào con đường cách mạng. Từ lực lượng du kích xã đến biên phòng địa phương, rồi Địa không quân Trà Ôn, cụ đi qua từng chiến tuyến bằng đôi chân trần và lòng yêu nước cháy bỏng.
Sau đó, cụ được điều động lên tỉnh, rồi về Trung ương, chiến đấu trong Trung đoàn 306 và Trung đoàn 318 của quân giải phóng miền Nam. Những bước chân của người lính trẻ ngày ấy đã in dấu trên khắp vùng đất Trà Ôn, Tam Bình, Cầu Kè, Trà Vinh, Vĩnh Long… nơi bom đạn cày nát ruộng đồng và máu của biết bao đồng đội đã hòa vào lòng đất mẹ.
Thời kỳ bình định là những tháng ngày dữ dội nhất.
Kẻ thù bao vây căn cứ, cắt đứt lương thực, truy lùng cách mạng đến tận cùng. Bộ đội nhiều lúc đói lả giữa rừng sâu. Không gạo, không muối, không thuốc men. Có những ngày, thứ duy nhất giữ họ sống sót chỉ là vài củ khoai mì hay chút cơm xin được từ đồng bào.
Ở vùng Dương Hải – Trà Vinh, giữa vòng vây quân địch, cụ cùng đồng đội đã từng ôm súng giữa cơn đói cồn cào mà hô vang:
“Quyết thắng! Quyết thắng! Quyết hoàn thành nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao cho!”
Tiếng hô ấy vang lên giữa rừng đước âm u, giữa cái chết luôn cận kề, như một lời thề của những con người xem Tổ quốc lớn hơn sinh mạng bản thân.
Cụ kể rằng có thời điểm quân Mỹ phong tỏa toàn bộ Rừng Mắm – Trà Vinh. Chúng không cho dân tiếp tế một hạt gạo nào cho cách mạng. Ai lén mang thức ăn vào đều có thể bị bắt, bị tra tấn hoặc mất mạng.
Những người lính giải phóng khi ấy phải chẻ trái dừa đước để húp từng ngụm nước cầm hơi. Một trái dừa chia cho nhiều người. Một hộp kem đánh răng cũng phải nặn ra dùng cho cả tiểu đội.
Đói khát đến tận cùng.
Có những đêm đồng đội ôm nhau khóc giữa rừng sâu nhưng không ai lùi bước. Không ai đầu hàng.
Bởi trong tim họ chỉ có một điều duy nhất:
“Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ.”
Cụ Nguyễn Văn Bảo khi ấy là Trung đội trưởng, dẫn anh em luồn sâu vào căn cứ địch, từng bước giải phóng các vùng chiến lược. Ban ngày tránh càn quét, ban đêm vượt đồng, băng sông, áp sát từng đồn bốt.
Máu đã đổ xuống không ít.
Nhiều đồng đội ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ. Có người vừa cầm súng hôm trước, hôm sau đã nằm lại giữa chiến trường. Nhưng những người còn sống vẫn tiếp tục bước lên, bởi phía sau họ là quê hương, là đồng bào đang mong ngày hòa bình trở lại.
Có lần quân địch tuyên bố sẽ tiêu diệt toàn bộ Trung đoàn 3. Trực thăng gầm rú trên bầu trời, pháo kích dội xuống ngày đêm. Bộ đội ta chỉ có vũ khí thô sơ như dao găm, mã tấu nhưng vẫn kiên cường chiến đấu.
Giữa cái đói và lằn ranh sinh tử, người lính giải phóng vẫn hiên ngang tiến về phía trước với tinh thần:
“Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.”
Và rồi mùa xuân năm 1975 đã đến.
Ngày 30 tháng 4 năm ấy, cụ nói rằng không ai ngủ được. Đồng bào òa khóc trong niềm vui vỡ òa sau bao năm chiến tranh khốc liệt. Những lá cờ giải phóng tung bay trên khắp nẻo đường miền Nam.
Đó là ngày máu và nước mắt của biết bao thế hệ đã hóa thành hòa bình cho dân tộc.
Giờ đây, khi chiến tranh đã lùi xa, người lính già năm xưa chỉ còn mong thế hệ trẻ hôm nay biết quý trọng cuộc sống hòa bình, biết nhớ đến công lao của cha ông.
Cụ chậm rãi nói:
“Đánh Mỹ đã khó, giữ được độc lập còn khó hơn. Các con, các cháu hôm nay được học hành đầy đủ thì càng phải sống xứng đáng với những người đã ngã xuống.”
Lời nói ấy giản dị nhưng nặng như một lời thề gửi lại cho mai sau.
Một thời máu lửa đã qua.
Nhưng tinh thần của những người như cụ Nguyễn Văn Bảo sẽ còn sống mãi — như một khúc tráng ca bất diệt của dân tộc Việt Nam anh hùng.



