Bài viết

KHÚC TRÁNG CA NGUYỄN NHƯ TRANG

Bài viết tái hiện cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Như Trang – người sĩ quan trẻ tài năng của Trung đoàn Tây Tiến. Từ những ngày chiến đấu bảo vệ Hà Nội trong mùa Đông năm 1946 đến các trận đánh ác liệt trên chiến trường Hòa Bình, anh luôn thể hiện bản lĩnh chỉ huy, tinh thần quả cảm và lòng yêu nước sâu sắc. Không chỉ là một chiến sĩ kiên cường, Nguyễn Như Trang còn là người giàu tâm hồn nghệ sĩ, sáng tác nhiều bài thơ, ca khúc cổ vũ tinh thần đồng đội, tiêu biểu là "Trấn biên cương" và "Tiếng cồng quân y". Anh đã anh dũng hy sinh khi mới 21 tuổi trong lúc ở lại chặn địch để bảo vệ đồng đội rút lui an toàn. Năm 2014, Nhà nước truy tặng anh danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, ghi nhận những cống hiến to lớn của người chiến sĩ trẻ đã hiến trọn tuổi xuân cho độc lập, tự do của Tổ quốc.

Phú Thọ10/08/2026Xã Thạnh Mỹ Tây (Đoàn xã Thạnh Mỹ Tây)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Người chỉ huy trẻ tuổi chiến đấu đến hơi thở cuối cùng vì Tổ quốc

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, biết bao thanh niên Việt Nam đã rời mái trường, gia đình và những ước mơ riêng để lên đường bảo vệ nền độc lập non trẻ của dân tộc. Trong số những người con ưu tú ấy, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Như Trang là một tấm gương tiêu biểu về trí tuệ, tài năng, lòng yêu nước và khí phách kiên cường của người sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam. Anh không chỉ là một người chỉ huy quả cảm mà còn là một chiến sĩ giàu tâm hồn, biết dùng thơ ca và âm nhạc để tiếp thêm sức mạnh cho đồng đội giữa những tháng ngày gian khổ.

Nguyễn Như Trang sinh năm 1927 trong một gia đình nhà giáo tại làng Nam Nhạc, thôn Vĩnh Mộ, xã Cao Xá, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Cha anh là cụ giáo Nguyễn Như Hoàn, một người có tài văn chương, từng đoạt giải nhất thơ Ngụ ngôn của Hội Khai trí Tiến đức trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Anh là hậu duệ đời thứ mười lăm của Thám hoa, Tướng công Nguyễn Như Thức, thủy tổ dòng họ Nguyễn ở làng Nam Nhạc.

Được sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống hiếu học, Nguyễn Như Trang sớm có điều kiện tiếp cận tri thức. Anh từng học tại Trường Thăng Long trong giai đoạn phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương phát triển mạnh mẽ. Những bài giảng của các nhà giáo yêu nước như Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Minh Giám đã góp phần bồi đắp trong người học trò trẻ tuổi tinh thần dân tộc, ý thức trách nhiệm và khát vọng cống hiến cho đất nước.

Tháng Tám năm 1945, Nguyễn Như Trang tham gia giành chính quyền tại Mỹ Hào, Hưng Yên, nơi gia đình anh đang sinh sống. Sau đó, anh trở lại Hà Nội và gia nhập Vệ quốc đoàn. Với vốn học thức vững vàng, bản lĩnh chính trị và năng khiếu về thơ, nhạc, mùa hè năm 1946, anh được tổ chức giao nhiệm vụ giảng dạy kỹ thuật quân sự tại trường quân chính của Vệ quốc đoàn, góp phần đào tạo cán bộ cấp tiểu đội. Cũng trong năm 1946, anh vinh dự được kết nạp vào Đảng.

Cuối năm 1946, nguy cơ chiến tranh lan rộng khắp Thủ đô. Các đơn vị Vệ quốc đoàn được bố trí tại ba liên khu trong nội thành, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Hà Nội. Trung đội do Nguyễn Như Trang chỉ huy được giao nhiệm vụ bảo vệ một số cán bộ của Khu XI tại khu Lò Lợn, gần Nhà máy Xay Lương Yên.

Ngày 16 tháng 12 năm 1946, lễ tuyên thệ của các chiến sĩ quyết tử được tổ chức trong không khí vô cùng thiêng liêng. Ba ngày sau, đêm 19 tháng 12, lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến vang lên, quân và dân Hà Nội đồng loạt nổ súng. Nguyễn Như Trang cùng đồng đội chiến đấu tại nhiều vị trí ác liệt như đê Stai Quai, ngã ba Lò Đúc – Yersin, Ô Cầu Dền, phố Huế, Viện Pasteur, Nhà máy Rượu Hà Nội, Ô Đông Mác và Cảng Phà Đen.

Sau khi trung đội được sáp nhập vào Tiểu đoàn 212 Vệ quốc đoàn, Nguyễn Như Trang trở thành Đại đội trưởng. Dưới sự chỉ huy của anh, đơn vị kiên cường giữ các chiến lũy, chặn bước tiến của xe tăng và bộ binh Pháp. Những trận đánh quyết liệt tại Liên khu II đã tôi luyện người sĩ quan trẻ trở thành một chỉ huy vững vàng, bình tĩnh và dũng cảm.

Rời Hà Nội, đơn vị của anh được bổ sung quân số, tổ chức thành Tiểu đoàn 150 thuộc Trung đoàn 52 Tây Tiến. Cuối tháng 2 năm 1947, đoàn quân hành quân qua Lương Sơn, Chợ Bò, Suối Rút, Chiềng Sại rồi ngược dòng sông Mã tiến lên Mường Lát, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu tại khu vực biên giới Việt – Lào và bảo vệ sườn phía tây của đất nước.

Đó là những tháng ngày vô cùng gian khổ. Núi rừng hiểm trở, thiếu lương thực, thuốc men, bệnh sốt rét hoành hành và cướp đi sinh mạng của nhiều chiến sĩ. Cuối năm 1947, khi bị thương và điều trị tại trạm xá Trung đoàn, Nguyễn Như Trang chứng kiến cảnh đồng đội lần lượt ra đi vì bệnh tật. Mỗi tiếng cồng vang lên lại báo hiệu một người lính vừa hy sinh.

Trước những mất mát ấy, anh sáng tác bài hát “Tiếng cồng quân y”, bày tỏ nỗi đau trước sự ra đi của những người chiến sĩ khi non sông vẫn còn chưa yên. Không chỉ là một cán bộ chỉ huy, Nguyễn Như Trang còn dùng ngòi bút và tiếng hát để khích lệ tinh thần đồng đội. Ca khúc “Trấn biên cương”, được anh phổ nhạc từ bài thơ sáng tác năm 1946, trở thành lời hiệu triệu mạnh mẽ đối với các chiến sĩ Tây Tiến trên những chặng đường hành quân đầy gian khổ.

Tại chiến trường Hòa Bình, Nguyễn Như Trang trực tiếp chỉ huy đơn vị chiến đấu trên Quốc lộ 6, đánh chặn các cuộc hành quân của thực dân Pháp, tiêu diệt nhiều sinh lực địch và thu nhiều vũ khí. Trong trận Mè – Lặt ở Lương Sơn, quân ta tiêu diệt hàng chục tên địch và trừng trị tên đảng trưởng khét tiếng Phùng Đồng Đẳng.

Trong các trận tiến công căn cứ Mai Châu, đồn Mai Hạ và Mường Lò, đơn vị do anh chỉ huy đã phá cơ quan tuyên truyền của cái gọi là “Xứ Mường tự trị”, tiêu diệt hai trung đội địch và làm chủ trận địa. Những chiến công ấy góp phần làm thất bại âm mưu chia rẽ dân tộc, lập vùng tự trị phản động và biến Hòa Bình thành bức tường ngăn cách các chiến khu của thực dân Pháp.

Nhờ năng lực tổ chức và thành tích chiến đấu nổi bật, Nguyễn Như Trang được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 150, Trung đoàn 52 Tây Tiến.

Thu – đông năm 1948, Trung đoàn 52 chủ trương tiến công đồn Đầm và đồn Nghẹ tại Ngọc Lặc, phía tây Thanh Hóa, nhằm tạo điều kiện mở rộng vùng giải phóng Thanh Hóa – Hòa Bình. Một đoàn cán bộ được cử đi chuẩn bị chiến trường, trong đó có Tiểu đoàn phó Nguyễn Như Trang.

Ngày 19 tháng 11 năm 1948, bộ phận trinh sát đến thôn Mu, làng Ngọc Lâu, châu Lạc Sơn, nay thuộc xã Tự Do, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Do bị chỉ điểm, đơn vị bất ngờ bị một lực lượng địch đông gấp nhiều lần, có cả lính Âu – Phi, bao vây và tiến công.

Trong tình thế hoàn toàn bất lợi, địa hình trống trải và lực lượng chênh lệch khoảng một chống mười, Nguyễn Như Trang nhanh chóng ra lệnh cho các chiến sĩ rút khỏi vòng vây để bảo toàn lực lượng. Riêng anh cùng một đại đội trưởng ở lại chiến đấu, thu hút hỏa lực địch và che chắn cho đồng đội.

Khi người đại đội trưởng hy sinh, Nguyễn Như Trang chỉ còn một mình giữa vòng vây. Anh vẫn kiên cường chiến đấu, tiêu diệt hơn mười tên địch trước khi anh dũng ngã xuống vào trưa ngày 19 tháng 11 năm 1948 – đúng ngày sinh nhật lần thứ 21 của mình.

Trước sự chiến đấu quả cảm của người sĩ quan trẻ tuổi, một viên trung úy Pháp đã phải cúi đầu thán phục. Chính khí phách và sự hy sinh của anh còn cảm hóa một người lính Âu – Phi tên Grand Wath, khiến người này rời bỏ hàng ngũ địch, đi theo bộ đội cách mạng.

Thi hài Nguyễn Như Trang cùng đồng đội được Nhân dân thôn Mu chôn cất. Nhiều năm sau, mẹ anh là cụ Đặng Thị Lục cùng người em trai Nguyễn Như Giao đã vượt qua chặng đường xa xôi, tìm về nơi anh hy sinh. Nhờ sự giúp đỡ tận tình của đồng bào địa phương, gia đình tìm được hài cốt của anh và đồng chí Nguyễn Huy Ngọc trong hai ngôi mộ nằm cạnh nhau.

Hài cốt Nguyễn Như Trang sau đó được đưa về Hà Nội, tổ chức truy điệu và an táng trang trọng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Mai Dịch, nơi anh yên nghỉ cùng những người con ưu tú đã hy sinh vì nền độc lập, tự do của đất nước.

Cuộc đời Nguyễn Như Trang chỉ kéo dài 21 năm, nhưng đó là 21 năm rực sáng bởi lý tưởng, trí tuệ, lòng nhân ái và tinh thần chiến đấu quả cảm. Anh vừa là người chỉ huy tài năng, vừa là người nghệ sĩ giàu cảm xúc; biết cầm súng bảo vệ Tổ quốc và cũng biết dùng âm nhạc nâng đỡ tâm hồn đồng đội giữa bom đạn, bệnh tật.

Để ghi nhận những chiến công và sự hy sinh đặc biệt xuất sắc của anh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ngày 21 tháng 10 năm 2014, Chủ tịch nước đã truy tặng liệt sĩ Nguyễn Như Trang danh hiệu cao quý “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”.

Danh hiệu ấy là sự tri ân sâu sắc của Đảng, Nhà nước và Nhân dân đối với người sĩ quan trẻ của đoàn quân Tây Tiến. Đó cũng là sự khẳng định rằng những người đã sống, chiến đấu và hy sinh vì đất nước sẽ mãi được lịch sử ghi nhớ.

Nguyễn Như Trang đã ngã xuống giữa núi rừng Hòa Bình, nhưng hình ảnh người Tiểu đoàn phó trẻ tuổi một mình ở lại chặn quân thù để đồng đội rút lui vẫn sống mãi như một tượng đài bất tử. Những bài hát anh để lại, những chiến công anh lập nên và khí phách anh thể hiện trong trận chiến cuối cùng sẽ tiếp tục truyền ngọn lửa yêu nước, lòng dũng cảm và khát vọng cống hiến cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
KHÚC TRÁNG CA NGUYỄN NHƯ TRANG | Câu chuyện thời hoa lửa