Khúc tráng ca trên Cao điểm 21
Cách đây 57 năm, giữa chiến trường Quảng Trị ác liệt, có một người lính viết thư cho anh trai cũng đang làm nhiệm vụ trên tuyến đường Hồ Chí Minh. Bức thư có đoạn: “Em vừa chiến đấu ra. Giờ đây đang nằm viện điều trị. Ngày 16/10/1968, em bị thương vì sập hầm, bị sức ép, cháy một phần hai mặt và một số mảnh phóng lựu ở tay... Trong trận chiến đấu vừa qua, em đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc... Một trung đội đánh với 35 xe tăng địch cộng với bộ binh. Em là người giữ trận địa đến cuối cùng. Nhiều đồ
Những người lính “Ăn cơm Bắc, đánh giặc Nam”
Ngày 13/1/1954, Bộ Quốc phòng ký Quyết định số 16-TNLD thành lập Trung đoàn 270 tại tỉnh Nghệ An. Tháng 8/1954, Trung đoàn 270 được giao nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến quân sự tạm thời sông Bến Hải và Khu vực Vĩnh Linh. Trong suốt 18 năm (từ tháng 8/1954-2/1972), Trung đoàn 270 trở thành lực lượng nòng cốt cùng với quân và dân Vĩnh Linh hoàn thành xuất sắc sứ mệnh bảo vệ giới tuyến, chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai tại Khu vực Vĩnh Linh. Ngoài nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến, Trung đoàn 270 còn là lực lượng “Ăn cơm Bắc, đánh giặc Nam”, đêm đêm vượt sông Bến Hải, đánh địch tại vùng đất Gio Linh, Quảng Trị.
Sau khi nhận giải, tôi được nhà báo Nguyễn Hồng Vinh chia sẻ rất nhiều về cảm xúc Trường Sa, về lần đầu tiên ông bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội ở huyện đảo Trường Sa. Ông cũng đã có lời khen tác phẩm của tôi khi ông đọc trên báo và đọc khi tham gia ban giám khảo của giải.
Nhà báo Phan Quang, nguyên Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam cho rằng, nhà báo, nhà thơ Nguyễn Hồng Vinh là một tay viết bút lực tràn đầy năng lượng, mênh mang y tứ, phong phú ngôn từ, thường xuyên có mặt trên trận địa báo chí nước ta hơn nửa thế kỷ qua.
Chỉ tính khoảng thời gian 15 năm trở lại đây, ông cho ra mắt bạn đọc một loạt tác phẩm, trong đó có 4 tập “Giữ lửa”, tập nào cũng dày trên dưới 500 trang, cùng 12 tập thơ được đông đảo bạn đọc đón chào, bạn hữu sẻ chia.
Từ khi bước chân vào khuôn viên số 71 phố Hàng Trống, Hà Nội - trụ sở Báo Nhân Dân, trong 55 năm qua, ông sống hết mình vì nghề báo, nghiệp văn. Nhiều chủ đề đồ sộ được Nguyễn Hồng Vinh lan tỏa qua cái nhìn của một nhà báo, nhà thơ, cố gắng giao hòa lửa báo với hơi văn.
Trả lời phỏng vấn của phóng viên Truyền hình Quốc phòng về nỗi mất mát của gia đình khi có người anh trai hy sinh ở chiến trường, nhà báo Nguyễn Hồng Vinh nói rằng nỗi đau mất đi người anh trai là nỗi đau như bao gia đình Việt Nam có người thân hy sinh, nhưng so với chiến thắng huy hoàng, vĩ đại của dân tộc thì sự hy sinh mất mát đó cũng chỉ là đóng góp rất nhỏ để góp phần cho thắng lợi của cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc.
Ông nói rằng đất nước ta chỉ có 63 tỉnh, thành phố (trước thời điểm tháng 7/2025) nhưng lại có hàng trăm nghĩa trang liệt sĩ và ông đã đi đến hầu hết các nghĩa trang ở các tỉnh để thắp hương tri ân các anh hùng liệt sĩ, trong đó có các liệt sĩ là nhà báo.
Và có một chút riêng tư của tôi với nhà báo Nguyễn Hồng Vinh, kể từ chuyến cùng ông trở lại thăm chiến trường xưa, tôi hiểu thêm đất nước ta dài rộng mênh mông, nhưng vì sao ông viết: “Trong chặng đường rong ruổi làm báo hơn nửa thế kỷ, tôi đã đi hết các tỉnh, thành phố, được gặp mặt và trò chuyện với bao lớp người, bao đồng nghiệp, nhưng có lẽ Quảng Trị là một trong những vùng đất để lại trong tôi nhiều dấu ấn sâu đậm”.
Ông đã lý giải dấu ấn sâu đậm ấy là vì đó là mảnh đất một thời như “cái phễu” hứng đạn bom của kẻ thù muốn hủy diệt tất cả, mà Thành Cổ Quảng Trị là một điển hình; sâu đậm vì nơi đây vào tháng 4 năm 1972, từ Trường Sơn ông đã theo bộ đội vào giải phóng Đông Hà; là mảnh đất có người anh ruột của ông hy sinh ở Đường 9 năm 1968 đến nay vẫn chưa tìm được phần mộ.
Trả lời câu hỏi của phóng viên Truyền hình Quốc phòng cảm nhận của tôi về nhà báo Nguyễn Hồng Vinh, tôi chia sẻ rằng bản thân là người may mắn được gặp ông. Đọc tác phẩm báo chí và văn chương của Nguyễn Hồng Vinh, tôi như được tiếp thêm năng lượng sống tích cực, để mỗi sáng mai thức dậy, nghĩ mình phải làm một điều gì đó có ích, như ông, một đời báo, một đời thơ - chiến sĩ mà cây bút và trách nhiệm xã hội luôn được đề cao, không bao giờ ngừng nghỉ.
Còn mãi trong tôi buổi trưa mùa hạ ở chiến khu Ba Lòng. Hôm đó tôi thấy nhà báo, nhà thơ Nguyễn Hồng Vinh đứng trầm ngâm bên dòng sông Ba Lòng xanh trong. Chúng tôi tản ra xung quanh, để ông ở lại với một miền ký ức.
Hôm sau, khi mở trang thơ tạp chí Người làm báo, tôi mới đọc được dòng cảm xúc của ông: “Tôi đứng ngắm giữa trưa hè nắng gắt/ Sông Ba Lòng sóng gợn lăn tăn/Ký ức tháng Tư cách đây năm thập niên/Lại ùa về xôn xao, lay động/Bồi hồi nhớ cô giao liên dũng cảm/Dẫn đơn vị tôi vào giải phóng Đông Hà/ Giữa lửa đạn đỏ trời và máy bay gầm rít/Thật xót đau cô đã hy sinh/Trở lại Ba Lòng mang tâm niệm thiêng liêng/ Thắp nén nhang tri ân người con gái” (Ba Lòng đang vẽ lại dung nhan).
Tôi nghĩ, có lẽ ký ức, niềm đau ấy được xoa dịu phần nào khi ông được chứng kiến sự hồi sinh của vùng đất này. Sự hy sinh của các anh hùng liệt sĩ ngày hôm qua đã đem lại màu xanh no ấm, bình yên cho hôm nay, khi Ba Lòng đã trải rộng màu xanh rau, lúa, sắn, khoai; những con đường nhựa đã đến trung tâm; thêm nhiều ngôi nhà mới khang trang; đèn điện sáng giữa rừng xanh thôn, bản... Được chứng kiến khoảnh khắc này, tôi hiểu vì sao nhà báo Nguyễn Hồng Vinh lại nặng nợ với miền đất này nhiều đến thế.
Nhớ lại những năm tháng hào hùng tại chiến trường Quảng Trị, ở hai bờ sông Bến Hải, đại tá Đoàn Ngọc Ninh (xã Quảng Ninh, Quảng Trị), Trưởng Ban liên lạc Trung đoàn 270 cho biết: “Trong 18 năm “Ăn cơm Bắc, đánh giặc Nam”, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 270 liên tục vượt sông Bến Hải, đánh 1.265 trận lớn nhỏ, tiêu diệt hàng nghìn quân địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của Mỹ-ngụy. Sau khi tỉnh Quảng Trị giải phóng vào năm 1972, Bộ Quốc phòng quyết định điều động toàn bộ Trung đoàn 270 vào chiến đấu tại mặt trận B1, kết thúc nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến quân sự tạm thời sông Bến Hải và Khu vực Vĩnh Linh”.
Cũng theo đại tá Đoàn Ngọc Ninh, cuộc chiến trở nên khốc liệt nhất giữa Trung đoàn 270 cùng quân và dân Gio Linh, Vĩnh Linh khi đối đầu với Mỹ-ngụy là giai đoạn từ 1968-1972, sau cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968. Đế quốc Mỹ và quân đội Sài Gòn đẩy mạnh phản công nhằm tái chiếm những vùng đất đã mất trên khắp miền Nam. Ở chiến trường Quảng Trị, Mỹ-ngụy liên tục tổ chức các cuộc hành quân càn quét nhằm giành dân, giành đất, hô hào “Bắc tiến”, đẩy quân giải phóng ra khỏi bờ Nam sông Bến Hải.
Tháng 4/1968, lúc mới 19 tuổi, chàng trai Hoàng Ngọc Bích, quê quán xã Diễn Lộc, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tốt nghiệp lớp 10, có giấy gọi nhập học Trường đại học Mỏ-Địa chất nhưng vẫn quyết định gác lại sự nghiệp đèn sách, viết đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ. Sau 2 tháng huấn luyện tân binh tại Đoàn 22, Quân khu 4 ở Thanh Hóa, cuối tháng 7/1968, Hoàng Ngọc Bích cùng đồng đội “Xẻ dọc Trường Sơn” hành quân vào Nam, trực tiếp chia lửa cho chiến trường Quảng Trị.
Được biên chế vào Trung đội 6, Đại đội 2, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 270, tân binh Hoàng Ngọc Bích nhanh chóng lập công trong tổ bắn tỉa của Đại đội 2 chốt tại Cao điểm 21. Bức thư gửi cho anh trai Hoàng Ngọc Châu cách đây 57 năm, ông Hoàng Ngọc Bích viết: “Trong đợt chiến đấu vừa qua, em đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc... bắn tỉa vào đồn địch, diệt 14 tên với cự ly 300m, đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp một”.
Nhận xét về sự hy sinh bi tráng của 32 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 270 tại Cao điểm 21, xã Gio Mỹ, huyện Gio Linh ngày 16/10/1968, đại tá, PGS. TS Trần Ngọc Long, nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam chia sẻ: “Sau này, chúng tôi nghiên cứu về trận đánh, thực sự rất đau lòng. Đau lòng ở chỗ 32 cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh rồi mà kẻ địch còn điên cuồng dùng xe tăng chà đi xát lại để trả thù và xóa dấu vết tội ác. Vì thế, Cao điểm 21 ngày hôm nay được người dân Quảng Trị gọi là "đồi thiêng", thường xuyên thăm viếng, tri ân!”.
Cuộc chiến trên Cao điểm 21
Cao điểm 21 thuộc xã Gio Mỹ, Gio Linh (cũ), là một đồi cát trắng cao 21m so với mực nước biển, cách Cao điểm 31 do địch chiếm giữ khoảng 800m về phía Đông Bắc. Ngày 15/10/1968, địch sử dụng 2 đại đội bộ binh và xe thiết giáp M-113 từ Cao điểm 31 đánh ra Cao điểm 21 do Trung đội 4, Đại đội 2, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 270 chốt giữ. Sau một ngày quần nhau với địch, ta tiêu diệt 65 tên, buộc chúng phải rút về Cao điểm 31. Trận đánh kết thúc, Trung đội 4 được lệnh trở ra hậu cứ, nhường cho Trung đội 6 vào thay thế.
Trong đội hình Trung đội 6 vào tiếp quản Cao điểm 21, ông Bích làm cán bộ liên lạc cho Trung đội trưởng Khương Văn Chi. Khoảng 9 giờ sáng ngày 16/10/1968, dưới sự yểm trợ của pháo binh và xe tăng, một tiểu đoàn địch từ Cao điểm 31 chia làm 3 mũi tấn công Cao điểm 21. Trận đánh không cân sức giữa ta và địch kéo dài đến khoảng 15 giờ chiều thì kết thúc, ta tiêu diệt hơn 100 quân địch và bắn cháy 5 xe thiết giáp M-113. Trung đội 6 gồm 33 chiến sĩ thì 32 người hy sinh, chỉ duy nhất ông Hoàng Ngọc Bích còn sống với thương tích đầy người. Đê hèn hơn, quân địch đã dùng xe tăng “cày đi, xới lại” trên Cao điểm 21, dùng máy bay thả bom na-pan đốt cháy trận địa.
Các cựu chiến binh Nguyễn Chiến Thắng (TP. Hà Nội), Nguyễn Hữu Ngạnh (xã Vĩnh Linh, Quảng Trị), nguyên chiến sĩ Trung đội 4, Đại đội 2, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 270 nhớ lại: “Trận đánh không cân sức diễn ra trên Cao điểm 21 giữa Trung đội 6 và địch. Bộ đội không có pháo binh chi viện, chỉ có cối 60, B40, B41 và tiểu liên AK. 33 người lính của ta đối mặt với cả một tiểu đoàn và hàng chục xe tăng địch...
Khi đêm đến, trung đội chúng tôi vào tiếp cận Cao điểm 21 làm công tác tử sĩ. Cao điểm 21 tan hoang dưới bánh xích xe tăng. May mắn thay, dưới một căn hầm đổ nát, chúng tôi phát hiện ra và lôi Bích lên khỏi mặt đất. Lúc này, người anh không còn áo quần, gương mặt cháy đen vì bom na-pan. Cả một trung đội, chỉ còn Hoàng Ngọc Bích sống sót. Đau xót nào bằng!”.



