Khúc Tráng Ca Trên Dải Biên Thùy
Khúc Tráng Ca Trên Dải Biên Thùy
Nắng tháng Chạp ở Tây Ninh không gắt gao như cái nắng đổ lửa giữa mùa hè, nhưng nó lại mang cái hanh hao, se sắt lạ thường. Trên những tràng cỏ tranh cao quá đầu người dọc theo con sông Vàm Cỏ Đông, gió thổi lồng lộng, mang theo mùi của đất hăng nồng và cả mùi thuốc súng chưa kịp tan từ những trận tập kích đêm qua. Phía xa kia, dãy núi Bà Đen sừng sững như một vị hộ pháp già nua, trầm mặc chứng kiến những biến động của thời cuộc. Ít ai ngờ rằng, chỉ vài năm sau ngày đất nước ca khúc khải hoàn 1975, máu lại một lần nữa thấm đẫm mảnh đất biên cương này trong một cuộc chiến không mong đợi.
Những người lính sư đoàn năm ấy, vốn vừa mới buông súng để cầm cày, cầm cuốc dựng xây kinh tế, nay lại phải vội vã thắt lại bao xe, tra vào nòng súng những viên đạn còn thơm mùi dầu mỡ. Kẻ thù bên kia biên giới – những bóng ma đen kịt Pôn Pốt – đã không còn là những người đồng chí cũ. Chúng đã biến thành những con thú khát máu, xua quân tràn qua biên giới, gieo rắc kinh hoàng lên các bản làng trù phú của Tân Lập, Xa Mát, Bến Cầu.
Đêm ở biên giới Tây Ninh những ngày cuối năm 1977 tĩnh mịch đến đáng sợ. Giữa cái không gian đặc quánh ấy, người chỉ huy trưởng mặt trận đứng lặng bên tấm bản đồ tác chiến. Những đường kẻ chì đỏ, xanh đan xen như những vết cắt vào da thịt. Đối phương không đánh theo lối chính quy dàn hàng ngang, chúng dùng chiến thuật "nở hoa trong lòng địch", luồn sâu, cắt nát các đơn vị của ta, và đặc biệt là sự tàn bạo đến tận cùng đối với dân thường. Tiếng súng bỗng rộ lên phía hướng đồn Xa Mát. Những quầng lửa màu cam rực cháy phía chân trời, báo hiệu một đêm không ngủ của những người giữ đất.
Trận đánh nổ ra khi sương mù còn chưa kịp tan trên những cánh đồng biên giới. Tiếng pháo 105mm của ta bắt đầu gầm vang, dội những gáo lửa đích đáng vào đội hình hành quân của quân Khmer Đỏ. Thế nhưng, kẻ thù cũng không vừa. Chúng huy động quân số áp đảo, liều lĩnh xông lên bất chấp tổn thất. Trong những chiến hào bùn đất nhão nhẹo, những người chiến sĩ trẻ tuổi – có người mới chỉ mười tám đôi mươi, quê tận Hà Bắc hay Thanh Hóa – mắt đỏ ngầu vì thiếu ngủ, tay siết chặt khẩu AK. Họ biết rằng sau lưng mình không chỉ là đơn vị, mà là hàng ngàn đồng bào đang sơ tán, là chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
Người ta kể lại rằng, có những tiểu đội đã chiến đấu đến người cuối cùng để giữ vững một chốt cao điểm không tên. Khi đạn đã hết, họ dùng lưỡi lê, dùng báng súng, và cả những nắm đấm rướm máu để giáp lá cà với quân thù. Tiếng thét "Xung phong!" vang động cả một góc rừng, át đi tiếng đạn pháo rít gào. Đó không chỉ là mệnh lệnh, đó là tiếng lòng của một dân tộc chưa bao giờ chịu khuất phục trước bất kỳ thế lực ngoại xâm nào.
Máu của những người con đất Việt đã đổ xuống, hòa vào dòng sông Vàm Cỏ xanh ngắt. Có những người ngã xuống khi trong túi áo vẫn còn bức thư tình viết dở gửi về quê mẹ, hay chiếc khăn tay thêu đôi chim bồ câu của người yêu phương xa. Họ đi vào cõi vĩnh hằng giữa lúc tuổi xuân đang xanh nhất, giữa lúc đất nước đang khát khao hòa bình hơn bao giờ hết. Nhưng chính sự hy sinh ấy đã tạo nên một bức tường thép không gì phá vỡ nổi dọc theo đường biên giới Tây Ninh.
Chiến dịch phản công bắt đầu. Các binh đoàn chủ lực của ta, sau thời gian kiềm chế để tìm kiếm một giải pháp hòa bình không thành, đã buộc phải ra đòn sấm sét. Những chiếc xe tăng T-54 gầm vang động đất trời, xé toang các tuyến phòng thủ của quân xâm lược. Pháo binh ta dập nã như trút nước vào các căn cứ hậu cần của đối phương. Trên bầu trời, những cánh én bạc cũng bắt đầu xuất hiện, phối hợp nhịp nhàng cùng bộ binh dưới mặt đất.
Tây Ninh những ngày ấy như một chảo lửa. Nhưng trong cái lửa đạn ấy, tình quân dân lại càng thêm thắm thiết. Những bà mẹ già ở Châu Thành, Hòa Thành đêm đêm lại nhóm lửa nấu cơm, tiếp tế cho bộ đội. Những cô gái thanh niên xung phong chẳng quản ngại hiểm nguy, cáng thương binh vượt qua những bãi mìn, những dòng suối lũ. Tất cả tạo nên một sức mạnh tổng hợp, một thế trận chiến tranh nhân dân mà không một đội quân xâm lược nào có thể khuất phục.
Khi tiếng súng tạm yên trên những cánh đồng biên giới, khi quân thù bị quét sạch khỏi bờ cõi, người ta mới có dịp nhìn lại những vết thương mà cuộc chiến để lại. Những ngôi nhà cháy rụi, những vườn cây ăn trái xơ xác vì mảnh đạn. Nhưng trên hết, lá cờ đỏ sao vàng vẫn hiên ngang tung bay trên đỉnh các đồn biên phòng. Tây Ninh đã đứng vững. Biên giới đã được giữ chặt bằng máu và nước mắt, bằng ý chí kiên cường của những người lính Bộ đội Cụ Hồ.
Nhiều năm đã trôi qua, những chiến hào năm xưa nay đã được phủ xanh bởi những rừng cao su bạt ngàn hay những cánh đồng mía ngút ngàn tầm mắt. Nhưng âm hưởng của trận Tây Ninh giữ vững biên giới vẫn còn vang vọng mãi trong tâm khảm của mỗi người dân nơi đây. Đó là minh chứng cho một sự thật lịch sử: Việt Nam luôn yêu chuộng hòa bình, nhưng nếu có kẻ nào dám xâm phạm đến chủ quyền thiêng liêng, dân tộc ấy sẽ đứng lên với tất cả sức mạnh của lòng tự tôn và lòng quả cảm.
Dưới chân núi Bà Đen, nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Tây Ninh chiều nay lại lồng lộng gió. Những hàng bia đá trắng tinh khôi nằm im lìm dưới nắng. Họ - những người lính đã ngã xuống trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Tây Nam – vẫn đang canh giữ cho giấc ngủ bình yên của nhân dân. Máu của họ đã hòa vào đất, thịt của họ đã hóa thân thành cỏ cây, để hôm nay, nhành mai vàng biên giới lại nở rộ mỗi độ xuân về, mang theo thông điệp về một sự sống bất diệt và một nền hòa bình vững chãi.
Câu chuyện về trận Tây Ninh không chỉ là một trang sử chiến tranh, nó là một bài học về lòng yêu nước, là bản tình ca của những người sẵn sàng hy sinh tất cả vì mảnh đất cha ông. Khi đi trên những con đường nhựa thênh thang chạy dọc biên giới hôm nay, nhìn những nụ cười rạng rỡ của trẻ thơ đến trường, ta hiểu rằng cái giá của sự bình yên ấy là vô cùng to lớn. Và chúng ta, những người thừa hưởng nền hòa bình đó, sẽ mãi ghi nhớ công ơn của những người đã viết nên khúc tráng ca trên dải biên thùy năm ấy.



