Khúc vĩ thanh trên đỉnh đèo Phu La Nhích
Sinh năm: 1941 Quê quán: Lê Lợi, Kiến Xương, Thái Bình Thường trú: Nhà 1008, Đường Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội Điện thoại: 04. 37540403 - 0903. 406510 Cán bộ Kỹ thuật Bộ GTVT chuyển sang Quân đội Nguyên Thượng uý, Trợ lý Phòng Bảo đảm Giao thông, Cục Tham mưu Công binh Bộ Tư lệnh 559 Nguyên Tư lệnh binh chủng Cổng binh Hồi ức về chuyến công tác cuối cùng trên đường Trường Sơn tháng 4/1973 cùng Chính ủy Đặng Tính. Một hành trình đầy chiêm nghiệm giữa những trọng điểm rực lửa xưa kia, gh
Tháng 4 năm 1973 - chuyến đi công tác cuối cùng trên đường Trường Sơn
Đầu tháng 4 năm 1973, Bộ Tư lệnh 559 tổ chức đoàn công tác kiểm tra đường phía tây Trường Sơn do Chính uỷ Đặng Tính (mật danh 602) dẫn đầu. Đoàn gồm đủ các cơ quan chức năng thuộc Bộ Tư lệnh: Cục Chính trị, Bộ Tham mưu, Cục Tham mưu Công binh, Cục Vận tải, Cục Hậu cần. Anh Nguyễn Thúc Yêm, mới được điều động giữ nhiệm vụ Cục phó Cục Tham mưu Công binh, và tôi - Trợ lý phòng Bảo đảm giao thông cùng tham gia đoàn. Đi cùng xe Cục Công binh còn có nhà thơ Chế Lan Viên, nhà văn Nguyễn Minh Châu, nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn, là những văn nghệ sĩ từ Hà Nội vào thực tế chiến trường.
Là lần đầu đi công tác với Chính uỷ Đặng Tính, nên tôi chuẩn bị rất kỹ trước khi lên đường. Tôi đã làm việc với các đơn vị nắm kỹ lại tình hình đường sá, các đơn vị công binh trên hành trình đường đi. Tôi mang theo bản đồ có vẽ đủ các tuyến đường phía tây, bản đồ chi tiết các trọng điểm lớn nơi địch đã tập trung đánh phá để sẵn sàng báo cáo Đoàn trên đường công tác.
Lúc này đang là mùa khô, sau hiệp nghị Paris về Việt Nam đã ký kết ngày 07 tháng 01 năm 1973, địch đã phải ngừng đánh phá bằng không quân ở Việt Nam và Lào.
Đoàn xuất phát từ sở chỉ huy lúc này ở Quảng Bình, đi theo đường 20 vào đường 128. Đây là lần đầu tiên cả một đoàn công tác lớn của Bộ Tư lệnh được đi ban ngày, được ngắm nhìn khung cảnh hùng vĩ của núi rừng Trường Sơn và những con đường đã thâm bao máu xương của các lực lượng xây dựng và bảo vệ nó để vận chuyển và chi viện cho các chiến trường miền Nam.
Đến Phu La Nhích, đứng ban ngày trên đỉnh đèo mới thấy hết sự đánh phá tàn ác khủng khiếp của không quân Mỹ trên cả vùng tập đoàn trọng điểm ATP. Hàng chục ki lô mét vuông, hố bom chằng chịt, không còn một bóng cây ngọn cỏ. Đến nơi đây tôi đã báo cáo với Đoàn về sự sáng tạo và ý chí kiên cường dũng cảm của bộ đội công binh, thanh niên xung phong trong xây dựng thế trận cầu đường vững chắc, liên hoàn với 5 đường vượt trọng điểm, có đường đi đội hình nhỏ, có đường cả tiểu đoàn xe chở hàng đội hình vận chuyển lớn, có đường kín xe chạy ban ngày, với các phương thức vượt sông bằng ngầm, bằng phà, có năm tranh thủ giao mùa bằng cầu cáp, bảo đảm giao thông thông suốt trong mọi tình huống.
Đứng trên đỉnh đèo Phu La Nhích, bỗng nhiên tôi nhớ đến hai người bạn cùng trong đoàn vào Trường Sơn với tôi tháng tư năm ấy, kỹ sư Nguyễn Văn Lạng và anh Lê Doãn Hoàng, cán bộ kỹ thuật trung cấp cầu đường, đã hy sinh trong trận đánh bom đầu tiên khi các anh đang tìm đường tránh Phu La Nhích đầu năm 1966. Tôi nhớ đến kỹ sư Phan Vũ Trang, người bạn trong đội bóng đá của công trường Hàm Rồng cùng tôi năm xưa đã hy sinh khi đang chỉ đạo thi công cầu cáp vượt sông Ta Lê năm 1967, và biết bao đồng chí đồng đội ngã xuống ở trọng điểm nổi tiếng ác liệt này.
Đi trên đường 128 đoạn Lùm Pùm vào đến đường số 9, tôi đã kể cho các anh văn nghệ sĩ ngồi cùng xe nghe về những khó khăn, gian khổ, thiếu thốn khi mở tuyến đường này trong mùa mưa khốc liệt năm 1965.
Năm ấy, mùa mưa đầu tiên mở đường cơ giới trên Trường Sơn, mưa rất lớn kéo dài liên tục, nước các sông dâng cao đường bị ngập, bị nước lũ tàn phá. Công trường 128 phải lát đến 40 ki lô mét đường rông đanh, mỗi ki lô mét khoảng hơn 3.000 cây gỗ dài khoảng 3 mét, đường kính 10 đến 15 cen ti mét để chống lầy. Nhưng tiếp tế vật chất đảm bảo rất khó khăn, gạo không đủ ăn, phải giảm khẩu phần vốn đã ít ỏi của mình. Hơn 2.000 các bộ chiến sĩ, công nhân giao thông, thanh niên xung phong vẫn quyết tâm vượt mọi khó khăn để mở đường. Khó khăn nhất vẫn là với chị em thanh niên xung phong, quần áo chỉ có hai bộ, lao động đầm mưa ướt sũng cả ngày, tối về có cô không còn quần áo khô, đành chui vào chăn chờ bạn đốt lửa hong khô quần áo mới có mặc. Ghẻ lở, chấy rận, tóc rụng, bệnh phụ khoa phát triển, ốm yếu, sốt rét nẩy sinh, nhưng chị em vẫn làm việc quên mình.
Với quyết tâm đó của cán bộ chiến sĩ, đầu tháng 11 năm 1965, đường đã thông, những chuyến xe đầu tiên đã bắt đầu chở hàng cho chiến trường, mở ra thời kỳ vận chuyển cơ giới trên Trường Sơn.
Đến trọng điểm Tha Mé, gặp tổ công binh chốt bảo đảm giao thông trên đèo, trong lúc nghỉ hỏi chuyện anh em, Chính uỷ Đặng Tính đã tự tay cắt tóc cho một chiến sỹ. Đây là một hình ảnh tuyệt đẹp, giữa nơi từng đã là trọng điêm bị đánh phá ác liệt còn chằng chịt hố bom đỏ ngầu, Chính uỷ chiến trường, mái đầu điểm bạc ung dung cắt tóc cho người chiến sĩ công binh trẻ giữa bầu trời vờn đám mây xám...
- “Chính uỷ thật bình dị thương lính...” - nhà thơ Chế Lan Viên bình phẩm.
- "Chính uỷ còn làm thơ hay nữa” - tôi bổ sung.
Thật thế, khi đến Binh trạm 34, Chính uỷ nói chuyện với cán bộ Binh trạm, buổi nói chuyện vui vẻ thân tình, đầm ấm, Chính uỷ còn đọc mấy bài thơ do mình sáng tác rất hay về Trường Sơn.
Đoàn về chỉ huy sở Sư đoàn 471, đồng chí Vũ Quang Bình, Chính uỷ Sư đoàn 968 mời Chính uỷ Đặng Tính vào thăm đơn vị. Chính uỷ cùng một số ít cán bộ trong Đoàn cùng đi, còn đại bộ phận ở lại tiếp tục làm việc với Sư đoàn 471.
Đoạn đường vào Sư đoàn 968 do đơn vị tự quản lý đảm bảo. Một xe tải đi đầu có cán bộ của Trung đoàn sở tại thuộc Sư đoàn 968 và bí thư của Chính uỷ Đặng Tính, xe Chính uỷ Đặng Tính đi thứ hai và những cán bộ khác đi xe thứ ba. Ngày 04 tháng 4 năm 1973, xe của Chính uỷ trúng mìn trên đường vào chỉ huy sở Sư đoàn 968, cả 6 đồng chí trên xe hy sinh. Thi hài các đồng chí được đưa về bệnh xá Sư đoàn 471, chúng tôi thay nhau túc trực để quân y xư lý chuyên môn chuẩn bị đưa 3 đồng chí cán bộ cao cấp ra Bắc an táng. Ba đồng chí còn lại được an táng tại một cánh rừng gần chỉ huy sở Sư đoàn 471.
Chính uỷ Đặng Tính được đưa về Hà Nội mai táng tại nghĩa trang Mai Dịch, đồng chí Chính uỷ Sư đoàn 968 được mai táng tại Quảng Bình và đồng chí Cục phó Cục Tham mưu Công binh được đưa về quê Hà Tĩnh. Bộ đội Trường Sơn đau đớn chịu tang, một mất mát lớn đến nay không thể nào quên được.
Với tôi đó là chuyến đi công tác cuối cùng trên chiến trường Trường Sơn, chuyến đi gợi nhớ biết bao kỷ niệm với đồng chí đồng đội trong 8 năm chiến đấu. Chuyến đi có tổn thất nặng nề, mất người Chính uỷ mà toàn thể cán bộ chiến sỹ Trường Sơn quý mến.
Ngay sau chuyến đi đó, tôi đã nhận được quyết định đi đào tạo tại nước ngoài. Ngày 30 tháng 4 năm 1973, tôi tạm biệt đồng đội, tạm biệt Trường Sơn để bắt đầu một giai đoạn mới, giai đoạn 8 năm học tập, nghiên cứu khoa học quân sự tại Mạc Tư Khoa, thủ đô Liên Xô.


