Khung cửa luôn mở của mẹ
.
Ngôi nhà của bà Hoa có một khung cửa sổ quay ra con đường làng. Suốt nhiều năm chiến tranh, cánh cửa ấy hiếm khi được đóng, kể cả vào những ngày gió mùa lạnh buốt.
Bà bảo để cửa mở, nhỡ người đưa thư đi qua thì bà còn nhìn thấy.
Bà Hoa sinh năm 1932 trong một gia đình nông dân. Lấy chồng, bà sinh được ba người con, hai trai, một gái. Chồng mất sớm, một mình bà vừa làm ruộng vừa nuôi con. Cuộc sống thiếu thốn, nhưng căn nhà nhỏ lúc nào cũng có tiếng nói cười.
Người con trai cả tên Minh, sinh năm 1951. Cậu em tên Thành kém anh ba tuổi. Hai anh em lớn lên bên nhau, cùng chăn trâu, tát nước và học dưới ngọn đèn dầu. Minh điềm đạm, làm việc gì cũng chắc chắn; Thành nhanh nhẹn, hay nói và thích sửa đồ dùng trong nhà.
Năm 1969, Minh nhập ngũ. Ngày con lên đường, bà Hoa nấu một nồi cơm, luộc mấy quả trứng rồi gọi họ hàng sang ăn. Bà không tổ chức tiệc lớn, chỉ muốn con có một bữa cơm đủ mặt người thân.
Trước lúc đi, Minh sửa lại khung cửa sổ đã bị lệch. Anh bảo mẹ cứ mở cửa cho nhà sáng. Bà gật đầu, không nói rằng từ ngày ấy, bà sẽ ngồi bên khung cửa nhiều hơn.
Minh vào chiến trường miền Nam. Những lá thư đầu tiên gửi về đều đặn. Anh kể đơn vị có nhiều đồng đội quê Nghệ An, mọi người thường hỏi nhau quê ở huyện mô, xã mô. Anh không kể về khó khăn, chỉ hỏi mẹ vụ lúa năm ấy có được mùa không, em Thành học hành ra sao.
Mỗi lần nhận thư, bà Hoa đọc rồi gấp cẩn thận, đặt vào chiếc hộp gỗ. Bà đọc không nhanh nên thường nhờ cô con gái đọc lại. Có lá thư được đọc đến mức các con thuộc gần hết.
Năm 1972, Thành cũng viết đơn nhập ngũ. Bà Hoa lặng người khi nghe tin. Một người hàng xóm khuyên bà xin giữ cậu con trai út ở nhà vì hoàn cảnh neo người. Bà suy nghĩ suốt đêm, cuối cùng không ngăn con.
Sáng Thành lên đường, bà đưa cho con chiếc khăn do chính tay mình dệt. Bà dặn hai anh em nếu có gặp nhau thì phải nhường nhịn, còn không gặp được cũng phải thương đồng đội như người nhà.
Từ đó, căn nhà chỉ còn bà Hoa và cô con gái. Ban ngày hai mẹ con ra đồng. Tối đến, bà ngồi bên cửa sổ vá áo, tai lắng nghe tiếng xe đạp ngoài ngõ. Mỗi lần có cán bộ xã hay người đưa thư đi qua, bà lại đứng lên nhìn.
Thư của Minh và Thành không đến cùng lúc. Có khi vài tháng mới nhận được một lá. Minh viết chữ ngay ngắn, Thành viết nhanh, dòng nọ nghiêng sang dòng kia. Dù khác nét chữ, cả hai đều kết thư bằng lời dặn mẹ giữ sức khỏe.
Bà Hoa không chỉ đợi thư của con mình. Trong xóm có nhiều gia đình cũng có người đi chiến trường. Mỗi khi nhà nào nhận được thư, bà đều sang chia vui. Nhà nào lâu không có tin, bà đến ngồi cùng, giúp làm cỏ hoặc mang sang rổ khoai.
Bà cùng phụ nữ trong xóm đan mũ, may túi, chuẩn bị quà gửi ra tiền tuyến. Những mảnh vải nhỏ được tận dụng, từng đường kim phải chắc chắn. Bà thường bảo không biết món đồ sẽ đến tay người lính nào, nhưng người nhận cũng là con của một người mẹ đang chờ ở quê.
Cuối năm 1973, gia đình nhận được tin Minh đã hy sinh tại chiến trường miền Nam. Tờ giấy báo được cán bộ địa phương mang đến vào một chiều mưa. Bà Hoa cầm giấy thật lâu, không khóc thành tiếng. Đêm ấy, bà vẫn để khung cửa mở.
Cô con gái định khép lại vì gió lạnh, bà ngăn. Bà bảo anh Minh không về nữa nhưng em Thành vẫn còn ở xa. Cửa phải mở để người trở về biết nhà vẫn đang đợi.
Bà đặt những lá thư của Minh lên bàn thờ, nhưng không cất chiếc ghế anh từng ngồi. Mỗi mùa gặt, bà vẫn để riêng một bó lúa đẹp, như ngày trước Minh còn nhỏ thường chọn giúp mẹ.
Năm 1975, đất nước thống nhất. Thành trở về vào một buổi chiều tháng Năm. Từ đầu đường, anh nhìn thấy khung cửa sổ mở và bóng mẹ ngồi bên trong. Thành chạy vào sân, quỳ xuống ôm lấy mẹ.
Bà Hoa sờ khuôn mặt con, hỏi câu đầu tiên rằng đồng đội có ai cùng về không. Thành nghẹn lời, rồi kể từng người. Bà lắng nghe, nhắc con sau này có điều kiện phải tìm thăm gia đình những người chưa trở lại.
Những năm sau đó, Thành làm theo lời mẹ. Anh cùng đồng đội đi thăm nhiều gia đình, giúp tìm thông tin và mang những câu chuyện còn dang dở về quê. Bà Hoa luôn chuẩn bị ấm nước chè xanh để đón bạn của các con.
Bà được mọi người kính trọng không chỉ vì có người con đã hy sinh, mà còn bởi suốt những năm khó khăn, bà luôn biết chia sẻ với các gia đình khác. Nỗi buồn không làm bà khép cửa lòng mình. Trái lại, bà càng thương những người mẹ cùng cảnh chờ mong.
Khi tuổi đã cao, bà Hoa trao hộp thư cho các cháu. Bà dặn giữ gìn vì đó là tiếng nói của người đi xa gửi về. Thư không chỉ kể chuyện một gia đình, mà còn giúp thế hệ sau hiểu rằng hòa bình được đánh đổi bằng rất nhiều cuộc chia tay.
Bà mất trong một ngày yên bình, khi ngoài đường trẻ em đang đi học. Sau tang lễ, các con sửa lại ngôi nhà nhưng giữ nguyên khung cửa cũ. Ban ngày, cửa vẫn được mở để ánh sáng chiếu vào gian thờ.
Người dân Châu Lâm đi qua đôi khi nhìn thấy khung cửa ấy. Họ nhớ một người mẹ từng ngồi đợi thư suốt những năm chiến tranh, đã tiễn hai con lên đường, đón một người trở về và giữ người còn lại trong từng trang thư cũ.



