KÍ ỨC KHÔNG BAO GIỜ PHAI CỦA CỰU CHIẾN BINH TẠI THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ
KÍ ỨC KHÔNG BAO GIỜ PHAI CỦA CỰU CHIẾN BINH TẠI THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ
Năm 1972, ông Tuyến, khi đó mới 20 tuổi, mang quân hàm trung sỹ, là Tiểu đội trưởng, Đại đội 1, Tiểu đoàn 25, Sư đoàn 320B, chiến đấu ở phía tây thị xã Quảng Trị.
Cùng với nhiều lực lượng khác, ông và đơn vị làm nhiệm vụ vận tải chở lương thực, vũ khí từ ngoài vào Thành cổ, qua sông Thạch Hãn, rồi lại chở thương binh từ Thành cổ ra ngoài bằng xuồng cao su, bè cây chuối hoặc phao bơi... Tất cả những nhiệm vụ ấy đều phải thực hiện lúc trời tối hoặc về đêm; phải vượt qua nhiều “hàng rào lửa” của địch trên bộ, trên sông để giữ vững tuyến liên lạc và đáp ứng yêu cầu của chiến trường.
Khu vực này thường xuyên bị địch bắn phá. Máy bay B52 điên cuồng rải bom tọa độ trên các tuyến đường. Trên sông, địch rải thủy lôi, bom từ trường để ngăn chặn tiếp viện vào thành. Những khu vực bến vượt sông, kẻ thù liên tiếp bắn pháo, nã đạn cối. Rất nhiều thuyền bị trúng thủy lôi nổ tung. Có những chuyến bị máy bay oanh tạc, chiến sỹ ta phải bỏ cả thuyền, hàng để nhảy xuống sông thoát vào bờ giữa làn pháo...
Việc bảo đảm tiếp vận lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm cho các đơn vị chốt giữ trong thành; tiếp tế vũ khí cho các đơn vị hỏa lực, đơn vị chiến đấu... trong điều kiện bị địch bắn phá liên tục là công việc cực kỳ khó khăn, đòi hỏi rất lớn về sức người. Nhưng càng chiến đấu, ông Tuyến và đồng đội càng có nhiều kinh nghiệm.
Đại tá Trịnh Trọng Tuyến nhớ như in: Do địch sử dụng nhiều phương tiện kỹ thuật hiện đại nên chiến sỹ của ta bấy giờ phải đối mặt với vô vàn khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ vận tải đường thủy. Nhưng trong cái khó, ló cái khôn, bộ đội ta đã nghĩ ra nhiều cách để thuyền bè không mắc thủy lôi, bom từ trường như: làm bè bằng thân chuối, buộc theo sắt vụn, vỏ đạn, tận dụng cả ga-lăng ô tô, xích xe tăng bị hỏng rồi thả trôi hoặc dùng dây kéo ở trước thuyền hàng trăm mét để kích nổ thủy lôi, bom từ trường... sau đó mới chống thuyền vượt qua.
Nhiều người vốn là công nhân cơ khí thị xã Phủ Lý, am hiểu về máy móc, kỹ thuật nên trong những tình huống, điều kiện thế này, đã phát huy sức sáng tạo, có phát kiến đưa những con thuyền sang sông thuận lợi hơn.
Ông đã bị thương trong một lần đang chiến đấu nhưng sau một thời gian điều trị, ông đã khỏi và tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ của mình.
81 ngày đêm tại thành cổ Quảng Trị là một khoảng thời gian vô cùng khắc nghiệt và khó khăn. Nhưng thế hệ cha ông chúng ta đã vững vàng chiến đấu để giành lại độc lập. Đó là lòng yêu nước, là ý chí kiên cường, là tinh thần sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc. Những giá trị ấy giống như một ngọn lửa âm thầm cháy mãi trong lòng mỗi người Việt Nam.
Đào Khánh An
Lớp:10A1
Trường THPT A Thanh Liêm, xã Thanh Bình, tỉnh Ninh Bình



