KÍ ỨC NGƯỜI LÍNH TRẺ - NGUYỄN VIẾT CHÂN
Ở tuổi 77 , trong kí ức của ông Nguyễn Viết Chân , một trong những người lính trực tiếp tham gia những trận đánh góp phần làm nên chiến thắng lịch sử 30/4/1975. Cũng như bao cô gái chàng trai cùng thế hệ, năm 1966, người lính trẻ Nguyễn Viết Chân với tinh thần yêu nước, lòng dũng cảm ông đã tham gia nhập ngũ và đóng quân tại Huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá, khi ấy ông mới tròn 17 tuổi. tháng 9/1966 ông được điều động hành quân vào chiến trường Miền Nam, tháng 3/1967 ông được bổ xung vào Sư Đoàn 7
Ở tuổi 77 , trong kí ức của ông Nguyễn Viết Chân , một trong những người lính trực tiếp tham gia những trận đánh góp phần làm nên chiến thắng lịch sử 30/4/1975.
Cũng như bao cô gái chàng trai cùng thế hệ, năm 1966, người lính trẻ Nguyễn Viết Chân với tinh thần yêu nước, lòng dũng cảm ông đã tham gia nhập ngũ và đóng quân tại Huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá, khi ấy ông mới tròn 17 tuổi. tháng 9/1966 ông được điều động hành quân vào chiến trường Miền Nam, tháng 3/1967 ông được bổ xung vào Sư Đoàn 7, Quân Đoàn 4. Trong chiến trường Miền Đông Nam Bộ có 3 Sư Đoàn: Sư Đoàn 5, Sư Đoàn 7, và Sư Đoàn 9. Sư Đoàn 5 và Sư Đoàn 7 của ông chuyên đánh phục kích và tập kích, Sư Đoàn 9 chuyên đánh công kích. Cả 3 Sư Đoàn với nhiệm vụ phòng ngự và phản công tạo áp lực lớn lên tuyến phòng thủ Sài Gòn trên tuyến Đường 13.
Năm tháng trôi qua đã rất lâu nhưng ông Chân vẫn còn nhớ. Tháng 7/1972 ông tham gia Chiến dịch Nguyễn Huệ . Khi đó ông cùng bộ đội ta nằm phục kích ngày đêm ở tuyến Đường 13 để phục kích xe tăng và tất cả xe của địch để tấn công vào Sài Gòn, chỉ trong thời gian ngắn Bộ Đội ta đã phục kích tiêu diệt được 4 chiếc xe tăng và 5 xe tải chở hàng của địch, biến nơi đây thành điểm nóng quyết liệt làm tiêu hao lớn sinh lực địch. Ông cùng các chiến sĩ của 3 Sư Đoàn và các lực lượng khác đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong đợt tấn công này.
Đến giữa tháng 4 năm 1975,Khi đó ông 26 tuổi, ông cùng các đồng chí trong Sư Đoàn 7, trực tiếp chiến đấu tại mặt trận Xuân Lộc “ Cánh cửa thép” vào Sài Gòn, sau 12 ngày đêm liên tiếp quân đội ta đã phá được tuyến phòng thủ thép của địch, tiêu diệt các đơn vị chủ lực của địch, ông nói “ Khi đó từ bộ đội địa phương đến người dân cũng hỗ trợ, quân đội ta đánh đến đâu giải phóng đến đó, khí thế như 1 cơn lốc ”.Sau khi giải phóng Xuân Lộc ông cùng Sư Đoàn tiếp tục truy kích địch mở đường cho các hướng tiến công vào Sài Gòn.
Tuy tuổi đã cao không còn được minh mẫn như trước nhưng ông vẫn nhớ nhất là lần cuối ông tham gia cuộc tiến công góp phần mở bàn đạp, tạo đà, cổ vũ tinh thần quân và dân ta đồng loạt tiến công vào các cửa ngõ Sài Gòn. Vào khoảng 17h ngày 26 tháng 4 năm 1975 ông cùng các đồng chí trong Sư Đoàn và các đồng chí của các đơn vị khác đồng loạt nổ súng mở màn chiến dịch tạo thế, bẽ gãy các tuyến phòng thủ ngoài của địch để mở đường cho mũi tiến công quyết định vào Sài Gòn ngày 30/4/1975. Ông và các đồng chí trong Quân Đoàn 4, và Sư Đoàn 341 có nhiệm vụ tấn công từ hướng đông nam. Phía quân đội ta đã sử dụng toàn bộ vũ khí như : xe tăng, pháo cao xạ, pháo hạng nặng, hoả lực, các loại súng….. để tiến công vào tuyến phòng ngự của địch, quân đội ta đã có nhiều trận chiến đấu dữ dội kéo dài hàng giờ với quân địch. Và cũng chính trận chiến này khiến ông đã bị thương và không thể tiếp tục chiến đấu cùng đồng đội.
Khi hỏi đến vết thương trên người ông, ông Chân đã không giấu được nổi súc động, ông kể : “ Đó là trận đánh cuối cùng của tôi cùng đồng đội với địch” vì trong lúc chiến đấu quyết liệt hàng giờ ông đã bị 2 mảnh đạn M79 cắm vào người khá sâu, 1 là ở cẳng tay trái, 2 là ở mông phải. Trong lúc bị thương ông vẫn cố hết sức nén lại nổi đau để cùng đồng đội hoàn thành nhiệm vụ. “ Bản thân là 1 người lính, 1 người bộ đội Cụ Hồ tôi luôn sẳn sàng hi sinh với mọi nguy hiểm và cái chết cận kề, nhưng vẫn quyết tâm chiến đấu đến cùng”, ông Chân xúc động.
Sau khi bị thương không còn sức chiến đấu ông được rút về Nam Hà để điều dưỡng. Đến trưa sang chiều ngày 30/4/1975 được nghe tin quân địch đầu hàng vô điều kiện, Sài Gòn được giải phóng .Ông Chân “ Tôi mừng vì quân đội ta giành thắng lợi nhưng tôi cũng buồn vì đã không được trực tiếp tham gia vào trận đánh quyết định này’ .
Sau khi Miền Nam giải phóng đất nước được thống nhất, đầu năm 1976 ông được chuyển về công tác tại Nông Trường Sông Âm, tại đây ông gặp và nên duyên với bà Lý người vợ hiện tại của ông, sau khi kết hôn ông bà sinh được 3 người con 1 gái 2 trai, tuy nhiên do di chứng của chiến tranh để lại 2 trong số 3 người con của ông bà đã bị nhiễm chất độc màu da cam, người con trai thứ 3 của ông sức khoẻ tốt hơn và đã lập già đình sinh con. Hiện tại chỉ có 2 ông bà ở cùng người con trai chất độc màu da cam. Tuy già yếu và nỗi đau do vết thương chiến tranh vẫn âm ỉ hành hạ cơ thể mỗi khi trái gió trở trời, cùng người con trai bị chất độc màu da cam nhưng ông Chân vẫn cùng vợ là bà Lý sống vui vẻ, mỗi khi nhắc đến câu chuyện thời chiến tranh ông vẫn rất tự hào vì mình đã góp một phần không nhỏ cho đất nước.



