Kơ-pa Kơ-lơng- Tác giả của lối bắn “xuyên táo”
Cũng sinh ra và lớn lên trong khói lửa chiến tranh, cậu bé người Gia Rai Kpă KLơng, hay Kơ-pa Kơ-lơng (1948-1975), quê ở xã Ia Pia, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai, đã sớm nuôi chí căm thù giặc. Chứng kiến cảnh cha mình bị quân địch giết hại, 13 tuổi, KLơng xin vào du kích nhưng bị từ chối vì quá nhỏ. Không nản chí, Klơng tự làm lấy nỏ, vót tên rồi ra bìa rừng phục kích và bắn bị thương một tên lính. Thấy tên lính không chết, Klơng liền quay về xin người già trong buôn những mũi tên có thuốc độc v

Tác giả của lối bắn “xuyên táo”
Cũng sinh ra và lớn lên trong khói lửa chiến tranh, cậu bé người Gia Rai Kpă KLơng, hay Kơ-pa Kơ-lơng (1948-1975), quê ở xã Ia Pia, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai, đã sớm nuôi chí căm thù giặc. Chứng kiến cảnh cha mình bị quân địch giết hại, 13 tuổi, KLơng xin vào du kích nhưng bị từ chối vì quá nhỏ. Không nản chí, Klơng tự làm lấy nỏ, vót tên rồi ra bìa rừng phục kích và bắn bị thương một tên lính. Thấy tên lính không chết, Klơng liền quay về xin người già trong buôn những mũi tên có thuốc độc và sau đó bắn hạ liên tiếp ba tên địch.
Với chiến công này, Klơng đã thuyết phục được các chỉ huy dân quân địa phương cho anh gia nhập. Xã đội trưởng Kpuih Blang cấp cho Klơng 1 khẩu súng trường Mosin (Việt Nam gọi là K-44) và ba viên đạn với điều kiện: “Phải hạ ba tên giặc”. Klơng liền bí mật bám sát, đợi lính địch xếp thành một hàng thẳng thì sẽ bắn xuyên táo. Phát thứ nhất, phát đạn xuyên 3 lính, 2 người chết tại chỗ. Phát thứ hai cũng "xuyên táo" cùng lúc 3 lính. Klơng rút về làng và nộp lại viên đạn thứ 3. Với năng lực này, Klơng chính thức được vũ trang, trở thành đội trưởng đội du kích huyện.
Rất nhiều đồng đội từng một thời kề vai chiến đấu với Klơng kể lại rằng, ông có lối đánh hết sức độc đáo. Lần nào đi phục kích, ông cũng chờ khi đối phương đi thành hàng (do đường rừng nhỏ hẹp) hoặc xếp hàng chào cờ thì bất ngờ nổ súng tiêu diệt ở cự li gần rồi rút lui trước khi bị bắn trả. Có những trận đánh, chỉ cần 7 viên đạn, Klơng đã được 19 tên. Lối bắn tỉa đặc biệt ấy nhanh chóng được áp dụng rộng rãi trong lực lượng du kích và gây ra nỗi sợ hãi không nhỏ cho quân địch.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
“Klơng đã sáng tạo ra những cách đánh giặc không thể nào quên. Cậu ấy không bao giờ chịu đổi 1 viên đạn lấy 1 đầu thù. Trận ở trên rẫy, Klơng bắn 3 viên đạn, hạ 7 tên; trận đánh bọn tuần đường Plei Me, Klơng bắn 7 phát, 19 tên lìa đời... Không chỉ giỏi bắn “xuyên táo”, Klơng còn giỏi sử dụng mìn. Mỗi một quả mìn qua tay cậu ấy dường như là “có mắt” và “biết đánh hơi kẻ thù”. Chả thế mà có những thời điểm ở cầu Ia Pia, ở suối Ia Kle, ở đường Plei Me... đâu đâu cũng gặp xác thù trôi nổi vì “gặp mìn” của Klơng”, ông Siu Blang, ở làng Quen Rai, xã Ia Me, huyện Chư Prông, một đồng đội năm xưa của Klơng chia sẻ.
Còn ông Kpuih Blang, người Xã đội trưởng cấp cho Klơng khẩu súng trường đầu tiên, kể: “Cái lần cả đội đánh mìn trên đường Plei Me, diệt gần hết 1 trung đội dân vệ năm 1965 là tôi nhớ nhất. Khi bọn giặc ồ ạt tiếp viện, Tiểu đội trưởng Thia ra lệnh lui quân, đến trưa cả đội mới về đến làng, kiểm tra hàng ngũ thì thấy thiếu Klơng. Cụ Sơt quát lớn: “Đi tìm thằng Klơng với tau”. Chúng tôi ra con suối đầu làng thì gặp Klơng đang rửa vết thương. Cụ Sơt ôm Klơng vào lòng, còn Klơng thì vẫn cười: “Klơng ở lại đánh cho mọi người rút lui. Bọn giặc đông quá, bắn không được, Klơng nằm im. Thấy chúng tới gần hơn, Klơng mở lựu đạn, để xì 3 giây, tống một quả. Chúng mất đầu 3 thằng, sợ quá, bọn kia chạy hết...”. “Tại sao Klơng không nghe lời” - anh Thia hỏi. Klơng vẫn cười: “Klơng có nghe chứ. Nhưng rút cả rồi ai chặn giặc cho các anh lui. Lúc đó em bị thương rồi. Em ở lại, em chết cũng được vì em còn nhỏ, làm được ít việc. Các anh phải sống, các anh là cán bộ, làm được nhiều việc cho dân mình”.
Với vô số chiến công như thế, ngày 17 tháng 9 năm 1967, Kpă KLơng được tuyên dương và phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khi đó, ông vừa mới 19 tuổi. Theo nhiều tài liệu lịch sử còn lưu giữ thì tính đến trước khi hy sinh (năm 1975), KLơng đã từng tham gia chiến đấu 32 trận, diệt 124 tên địch, phá huỷ 7 xe quân sự và là một trong những người diệt nhiều địch nhất trên chiến trường Tây Nguyên.
Câu chuyện về chàng trai Gia Rai Kpă KLơng anh hùng ấy đã được truyền đi khắp các bản làng Tây Nguyên, trở thành nguồn cảm hứng để nhà văn Nguyên Ngọc viết lên truyện ký “Người dũng sĩ dưới chân núi Chư Pông”. Đồng thời, ông cũng là niềm tự hào, thôi thúc thanh niên, trai tráng khắp vùng tìm đến cách mạng, tìm đến con đường giải phóng cho toàn dân tộc.



