Kon Tum 1966: Điểm tựa lòng dân và Sức mạnh niềm tin
Đoạn trích ghi lại giai đoạn phát triển vượt bậc của khối chủ lực Tây Nguyên (đầu năm 1966) với sự gia nhập của Sư đoàn 325B, nâng quy mô lực lượng lên tương đương hai sư đoàn. Trước sự leo thang đánh phá khốc liệt của Mỹ và âm mưu chia rẽ dân tộc của Phun-rô, lãnh đạo Mặt trận đã phối hợp chặt chẽ với tỉnh Kon Tum để xây dựng "hậu phương tại chỗ". Điểm sáng rực rỡ của đoạn văn là hình ảnh đồng bào các dân tộc Tây Nguyên—từ em bé đến cụ già—sẵn sàng nhịn ăn, gùi gạo, tải đạn và giã gạo nuôi quân
Đầu tháng 4 năm 1966, Bộ tăng thêm cho Tây Nguyên sư đoàn 325B (đến Tây Nguyôn mang phiên hiệu Nông trường 10 (NT10) do anh Vương Tuấn Kiệt sư đoàn trưởng, anh Trần Văn Trân làm sư đoàn phó, anh Quốc Tuấn làm chính ủy, anh Trần Xuân Lư làm phó chính ủy, anh Thái Cán làm tham mưu trưởng, anh Thái Bá Nhiệm làm chủ nhiệm chính trị. Sư đoàn 325B đến chiến trường với quân số 8.059 người của 2 trung đoàn là 95 và 101B. Trung đoàn 95 do anh Lê Khắc cần, trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Hữu Hưu, chính ủy, các anh Trần Ngọc Anh, trung đoàn phó, tham mưu trưởng, Võ Duy, phó chính ủy, anh Phan Duy Nguyên, chủ nhiệm chính trị. Trung đoàn 101B do anh Ma Văn Minh, trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Thế Hân, chính ủy, các anh Hà Phúc Hảo, trung đoàn phó, Nguyễn Hồng Hải, tham mưu trưởng, Vũ Đình Trụ, phó chính ủy, Đàm Hữu Vấn, chủ nhiệm chính trị.
Theo báo cáo của anh Thái Bá Nhiệm, quyết tâm của sư đoàn trước khi vào chiến trường khá tốt. Lúc đầu mỗi đại đội có dăm ba người tư tưởng còn có vấn đề, nhưng trong hành quân có chuyển biến tích cực. Nhiều đồng chí đang ốm vẫn cố gắng theo đơn vị hoặc anh em khiêng cáng nhau đi trong đội hình.
Như vậy, đến giữa năm 1966, khối chủ lực Tây Nguyên đã tương đương hai sư đoàn. Với lực lượng bộ đội chủ lực ngày một lớn như vậy, vấn đề xây dựng hậu phương trực tiếp của chiến trường đặt ra những đòi hỏi bức xúc.
Ngày 3 tháng 3 năm 1966, anh Chu Huy Mân và tôi cùng một số cán bộ Mặt trận Tây Nguyên đã họp với lãnh đạo tỉnh Kon Tum do anh Nguyễn Văn Tiềm (Bùi Anh), bí thư tỉnh ủy, anh Lê Băng, phó bí thư tỉnh ủy, anh Nguyễn Tập, phó bí thư tỉnh ủy kiêm chính trị viên tinh đội, anh Nguyễn Trọng Đàm, tỉnh đội trưởng cùng một tổ cán bộ ban ngành khác của tỉnh.
Đây là cuộc họp đầu tiên giữa lãnh đạo Mặt trận với lãnh đạo tỉnh Kon Tum để bàn nhiều vấn đề liên quan đến nhiệm vụ tác chiến và công tác xây dựng hậu phương chiến lược tại chỗ của chiến trường theo tinh thần Nghị quyết 12 của Ban Chấp hành Trung ương. Về tình hình địch, anh Nguyễn Văn Tiềm cho biết: “Ở Tân Cảnh có 2 tiểu đoàn thuộc trung đoàn 42 sư đoàn 22 ngụy. Ngày 15 tháng 2 năm 1966 Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tăng thêm 2 tiểu đoàn thuộc sư đoàn không vận số 1 Mỹ lên Tân Cảnh. Có 2 đại đội lính mũ nồi xanh Mỹ, 1 đại đội chiếm đóng căn cứ Mãng Đen, 1 đại đội chiếm đóng căn cứ Măng Bút, nhằm khống chế ta ở vùng Bắc Tây Nguyên. Lực lượng bảo an có 1 tiểu đoàn và 6 đại đội độc lập đóng ở Kông Trang Ho, Kon Rẫy, Kroong và cầu Kon Tum. Ở Đắc Pét có 1 tiểu đoàn biệt kích ngụy và 50 cố vấn Mỹ đóng trong căn cứ. Ngoài ra còn khoảng 700 dân vệ nằm trong các buôn ấp xung quanh quận lỵ Đắc Pét.
Khác với khi còn thực hiên chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, giờ đây quân Mỹ và quân chư hầu phối hợp với quân ngụy khá chặt chẽ để cắm đồn, chốt giữ mở nhiều cuộc hành quân càn quét “tìm và diệt”. Có cuộc càn chúng huy động tới 12 tiểu đoàn (có một lữ đoàn Mỹ) tham chiến, vừa hành quân càn quét, đánh phá vừa gom xúc dân vào các “ấp tân sinh”, “khu tập trung”, “ấp chiến lược”. Chúng huy động lực lượng lớn gồm cả bộ binh, pháo binh, không quân, có thám báo, biệt kích dẫn đường, chỉ điểm đánh theo lối “cuốn chiếu”, “úp nơm” để triệt phá vùng giải phóng, vùng căn cứ cách mạng của ta. Đồng thời chúng dùng máy bay bắn phá ngày đêm, liên tục rải chất độc hóa học phát quang diệt môi sinh, phá hoại hoa mầu nương rẫy khiến nhiều làng trong căn cứ kháng chiến bị hủy diệt, gây cho ta khó khăn tổn thất.
Cùng với hành động quân sự kể trên địch còn đẩy mạnh việc củng cố chính quyền tay sai tề ngụy ở các ấp. Mặt khác chúng đẩy mạnh chiến tranh tâm lý chiêu hồi, chiêu hàng, lũng đoạn tư tưởng cán bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân gây rối nội bộ ta”.
Anh Nguyễn Tập cho biết thêm: “Gần đây lực lượng Phun-rô đang trỗi dậy hoạt động khá tích cực, chúng có cờ và truyền đơn, địa bàn chủ yếu quanh thị xã Kon Tum. Từ đầu năm 1966 chúng mở rộng địa bàn ra khu vực Đắc Tô, Kon Hơ Giao. Âm mưu của chúng là chia rẽ người Kinh và người Thượng, Mỹ đang lợi dụng bọn này để chống phá ta. Chúng cho người chui vào cơ sở của ta để tuyên truyền lôi kéo. Ở huyện 67 đã có 9 thanh niên và du kích chạy theo chúng”.
Từ tình hình trên, Tư lệnh kiêm Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên và lãnh đạo tỉnh Kon Tum thống nhất cho rằng, trước mắt tình hình địch ở Kon Tum là khá phức tạp. Mỹ - ngụy đang tranh thủ Phun-rô và các đảng phái phản động như đảng Cần lao nhân vị, đảng Đại Việt và Quốc dân đảng để chống phá ta. Do vậy, quân và dân Tây Nguyên nói chung, quân và dân tỉnh Kon Tum nói riêng phải đề cao cảnh giác, kiên quyết làm thất bại âm mưu của chúng
Về tình hình ta, anh Nguyễn Văn Tiềm cho biết:
- Tính đến đầu năm 1966, cả tỉnh Kon Tum có 120 nghìn dân gồm 14 dân tộc, trong đó có gần 40 nghìn dân người Kinh, sống chủ yếu ở thị xã và một số thị trấn, quận lỵ. Số dân vùng giải phóng là hơn 40 ngàn người, sống chủ yếu trong vùng núi sâu và căn cứ của ta. Số dân sống trong vùng địch tạm thời kiểm soát là 70 nghìn và 10 nghìn dân sống ở vùng tranh chấp.
Tình hình vùng giải phóng và căn cứ của ta cơ sở chính trị tốt, nơi nào cũng có tổ chức của Đảng, đời sống nhân dân khó hơn trước, nhưng tinh thần đóng góp của nhân dân các dân tộc rất cao. Kon Tum là tỉnh nghèo, mặc dù còn thiếu đói nhưng nhân dân vẫn dành gạo cho cách mạng. Năm 1965, toàn tỉnh đóng góp được 230 tấn lương thực, tăng gấp 2,5 lần so với năm 1964.
Các huyện trong tỉnh đều có bệnh xá, với đội ngũ y sĩ, y tá có khả năng giải quyết những trường hợp nhân dân và du kích bị thương hay bệnh tật. Bệnh viện tỉnh có khoa nội và khoa ngoại, một lúc có thể tiếp nhận vài chục thương bệnh binh. Phong trào của tỉnh phát triển khá toàn diện, lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương đã mở được nhiều địa bàn sát các vùng xung yếu. Nhân dân ở vùng giải phóng và căn cứ luôn sẵn sàng phục vụ bộ đội. Huyện 40 (Đắc Lây), có thể huy động 1.000 dân công phục vụ chiến đấu, huyện 67 huy động từ 1.300 đến 1.500 dân công khi cần thiết. Huyện 80 (Đắc Tô), thường xuyên có 3 trung đội du kích hoạt động quanh huyện và trục đường 14 Đắc Tô đi Đắc Sút. Những trung đội du kích này có khả năng chiến đấu độc lập, đánh ấp, chống càn.
Trao đổi với lãnh đạo tỉnh Kon Tum, anh Chu Huy Mân đề nghị tỉnh cần tập trung giải quyết một số vấn đề chủ yếu vừa cấp bách, vừa mang tính chất cơ bản lâu dài đối với tỉnh Kon Tum nói riêng và Tây Nguyên nói chung, anh nói:
- Kon Tum là trung tâm căn cứ không những của Tây Nguyên mà còn của cả Khu 5, là đầu mối của tuyến đường chiến lược nối liền hậu phương lớn miền Bắc với Tây Nguyên và từ đây đi vào Nam Bộ. Do vậy, nhiệm vụ trên giao cho Kon Tum và Tây Nguyên là chiến trường có điều kiện tiêu diệt lớn quân địch, không phải một năm mà nhiều năm. Để làm tròn nhiệm vụ nặng nề nhưng rất vẻ vang trên, trước hết trong trường hợp nào tỉnh cũng phải giữ được dân, vận động nhân dân bám địa phương không bỏ chạy đi nơi khác và thực hiện việc “cấy dân” ở những địa bàn trọng điểm. Có dân ta mới xây dựng được căn cứ, xây dựng được hậu phương. Muốn giữ được dân, tỉnh cần tập trung giải quyết vấn đề đời sống cho nhân dân trên cơ sở động viên nhân dân đẩy mạnh sản xuất lương thực toàn diện, nhưng lấy cây mì (sắn) là chủ yếu.
Một vấn đề hết sức quan trọng là chăm lo xây dựng cơ sở chính trị ở mọi nơi, thực hiện tốt chính sách của Đảng, đặc biệt là hai chính sách lớn: chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo. Chúng ta phải tìm mọi cách thâm nhập chính sách của Đảng vào quần chúng nhân dân. Bởi vì chính sách là thể hiện tính ưu việt của cách mạng, làm đúng, làm tốt quần chúng mới tin và noi theo.
Dừng một lát, anh Chu Huy Mân nói tiếp:
- Tôi muốn nói với các đồng chí về công tác địch vận. Đây cũng là một chủ trương lớn của Đảng, các cấp các ngành cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều phải tham gia tuyên truyền vận động gia đình và sĩ quan binh lính ngụy quân, nhân viên ngụy quyền quay về với cách mạng. Tôi được biết, hiện nay tỉnh có hai trại giam với gần 500 tù binh. Tỉnh cần có kế hoạch giáo dục tuyên truyền giải thích cho số tù binh này rồi thả ra đề họ tuyên truyền cho ta. Có thể một nửa hay hai phần ba số này lại theo địch thì ta vẫn còn một phần ba, có khi một nửa, như vậy vẫn có ích.
Từ sau cuộc họp giữa lãnh đạo Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên với các đồng chí lãnh đạo tỉnh Kon Tum, tình hình chung có sự chuyển biến tích cực. Bộ đội bước vào chuẩn bị cho đợt chiến đấu Xuân Hè 1966. Lãnh đạo tỉnh Kon Tum kịp thời đề ra một kế hoạch toàn diện lâu dài trên nhiều lĩnh vực. Có nhiều việc kết quả vượt xa so với dự kiến ban đầu.
Tôi đã có dịp đến những buôn làng căn cứ Tây Nguyên trong đó có tỉnh Kon Tum, tiếp xúc với người dân, với cán bộ cơ sở, tôi hiểu từ trong tiềm thức của đồng bào Tây Nguyên nói chung và nhân dân các dân tộc Kon Tum nói riêng thì cán bộ, Đảng, cách mạng là một. Họ yêu cán bộ tức yêu quý Đảng. Họ làm theo lời cán bộ tức là làm theo mệnh lệnh của cách mạng, của Đảng. Gian khổ, đói nghèo không làm cho người dân Kon Tum sờn lòng, nhụt chí. Trái lại, càng làm cho họ gắn bó với Đảng cao hơn. Nhân dân Tây Nguyên yêu cái rừng cái núi bao nhiêu thì họ cũng yêu cách mạng bấy nhiêu. Vì thế họ sẵn sàng chịu đựng tất thảy những mất mát hy sinh để cho cách mạng thắng lợi.
Tôi còn nhớ trong cuộc họp của dân bản Đắc Son gần ngã ba biên giới Đông Dương bàn việc đóng góp thóc lúa cho cách mạng và dân công phục vụ bộ đội chiến đấu; khi đồng chí bí thư chi bộ đặt vấn đề: “Chúng ta đi theo Đảng, theo cách mạng, nay Đảng cần gạo cho bộ đội ăn no đánh thắng giặc Mỹ, cần dân công phục vụ tiền tuyến, bà con nghĩ sao ?”. Tất cả đều trả lời không một chút do dự: “Đảng cần cái gì, đồng bào đóng góp hết”. Thế là ngày hôm sâu đồng bào vùi thóc, gùi gạo, ùn ùn nộp vào kho cách mạng. Cán bộ hỏi: “Có bao nhiêu gạo đồng bào đóng góp cho cách mạng cả, còn mình sống bằng gì ? Đồng bào trả lời: “Mình quen chịu khổ rồi, mình ăn cái rau, củ mì được, chứ để bộ đội đói thì lấy sức đâu đánh giặc”. Câu nói giản dị ấy chứa đựng một tình cảm sâu nặng, gắn bó của người dân Kon Tum với cách mạng. Đảng cần, cách mạng cần là nhân dân các dân tộc sẵn sàng làm ngay, họ không đòi hỏi bất cứ một điều kiện nào.
Khi viết đên đây tôi chợt nhớ câu thơ của Nguyễn Duy Nhiệm, nguyên đội trưởng đội văn nghệ xung kích Mặt trận Tây Nguyên:
Gạo giã xong - đầy gùi - phần cách mạng
Một lần khác chúng tôi được anh cán bộ kinh tế huyện 67 dẫn đến chỗ đồng bào đang nộp thóc. Bà con vây quanh, họ nói nhiều, tiếc rằng ngôn ngữ khác nhau nên chẳng hiểu được là bao. Anh cán bộ nói lại cho tôi nghe đại ý: Bộ đội, đồng bào cùng đánh Mỹ, ngụy. Đồng bào có ăn, bộ đội không lo đói. Hết gạo ta có mì (sắn), hết mì ta có rừng. Rừng là gạo, là mì, là tất cả đó thôi. Bao đời nay ông cha ta sống với rừng. Rừng vẫn là của ta. Cái bụng ưng nhau rồi không lo gì hết.
Anh chỉ cho tôi số bà con đứng ở bên cạnh:
- Bà con mới ở “ấp chiến lược” được cơ sở dẫn mang gạo ra đấy. Đi cả ngày đường mới tới đây. Ai cũng bảo: làm cách mạng bằng nhau. Mình còn tạm thời ở trong ấp nhưng mình đã là người của cách mạng mình phải đóng góp bằng nhau với bà con vùng giải phóng chớ!
Chúng tôi và anh cán bộ kinh tế huyện đã từng đi qua những “rẫy cách mạng”, với bạt ngàn đu đủ, chuối. Anh nói với tôi:
- Bà con làm cho cách mạng cả đây. Bộ đội, cán bộ dân sự đi công tác qua cứ lấy mà ăn. Không phải hỏi ai cả. Nhưng ăn đến đâu, lấy đến đó đừng lãng phí là được rồi.
Một lẫn khác nữa, chúng tôi đến một làng, từ xa đã nghe tiếng chày giã gạo thình thịch đều đều tạo thành một âm điệu nhịp nhàng.
Ở đây chúng tôi gặp anh em mình đang lấy gạo. Một cảnh tượng thật khó quên dối với tôi: cả làng giã gạo. Từ em bé đến cụ già đều giã gạo. Bộ đội cũng đang giã tay đôi với bà con. Mọi người vừa làm vừa hát. Nghe thì hay nhưng tôi chẳng hiểu gì. Tôi hỏi anh cán bộ kinh tế huyện:
- Bài hát ấy là thế nào?
Anh đọc lại cho tôi nghe, lời bài hát như sau:
Trăng lên rồi
Đêm càng đẹp.
Lũ làng mừng giã gạo nuôi quân
Ơi anh giải phóng, cái chân không mỏi
Lũ làng đây cái tay cũng không mỏi.
Anh diệt nhiều thù, cối gạo càng trắng thơm
Đẹp lòng quân dân
Nghĩa tình cá nước.
Tôi cũng đã từng gặp những đoàn dân công đủ các lứa tuổi của các dân tộc ở tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc đi gùi gạo, gùi đạn phục vụ tiền tuyến trong những ngày mưa lạnh. Có một bà mẹ ở làng Đắc Xây lưng gùi 4 quả đạn cối 82 ly, tay dắt theo một đứa nhỏ, tay kia bế đứa con địu trước ngực cũng luồn rừng, lội suối theo dân làng ra trận. Không có áo mưa họ phải dùng lá chuối rừng che hàng cách mạng, còn mình thì chịu ướt, chịu rét. Đêm mưa tầm tã, bà con lại lấy lá chuối rừng che thân rồi từng tốp ba người, năm người ngồi dựa vào nhau đợi giờ quân ta nổ súng, hễ có thương binh là họ khiêng cáng về trạm phẫu ngay không kể lúc nào.
Hàng cách mạng gùi đến nơi đến chốn, không hao hụt một lạng, một hạt. Đồng bào nói với nhau: “Lấy của cách mạng là không tốt, là có tội”. Suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ đồng bào Tây Nguyên nói chung, đồng bào Kon Tum nói riêng, vẫn liên tục phát huy truyền thống tốt đẹp đó. Điều này đã trở thành nếp sống đạo đức tốt đẹp của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, nó chất chứa một niềm tin trọn vẹn vào Đảng, vào cách mạng.



