Anh hùng Lực lượng vũ trang

KPA-KƠ-LƠNG – NGƯỜI TRINH SÁT TRẺ TUỔI GIỮA ĐẠI NGÀN TÂY NGUYÊN

Anh hùng LLVTND Kpa-Kơ-Lơng (sinh năm 1948), dân tộc Gia Rai, quê xã I-a Pia, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai, là một chiến sĩ trinh sát trẻ tuổi tiêu biểu của chiến trường Tây Nguyên. Từ khi chưa được nhận vào du kích, ông đã tự làm chông, cạm bẫy, sử dụng ná và tên để đánh địch. Theo tư liệu, trong thời gian hoạt động du kích, ông tham gia 12 trận, trực tiếp diệt 124 đối phương, trong đó có 6 lính Mỹ, phá hủy 7 xe quân sự; sau khi nhập ngũ tháng 3/1965, tiếp tục tham gia 7 trận. Nổi tiếng với khả năng trinh sát, đánh mìn, bắn súng và phục kích, Kpa-Kơ-Lơng được tặng 2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất. Ngày 17/9/1967, ông được tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

Lạng Sơn22/08/2026Xã Thạnh Mỹ Tây (Đoàn xã Thạnh Mỹ Tây)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chỉ còn ba viên đạn.

Phía trước là lực lượng đối phương.

Phía sau là núi rừng Tây Nguyên.

Người chiến sĩ trẻ Kpa-Kơ-Lơng không rút lui.

Ông kiên trì bám theo đối phương từ sáng đến chiều, giữ lại từng viên đạn và chờ một thời cơ thuận lợi.

Đến khi đội hình đối phương tập hợp thành hàng dọc, Kpa-Kơ-Lơng bí mật áp sát.

Khoảng cách chỉ còn 5 mét.

Ba viên đạn cuối cùng được sử dụng.

Theo tư liệu thành tích, trận đánh ấy ông diệt 7 đối phương, làm bị thương 1 người, rồi nhanh chóng băng rừng trở về phía sau.

Đó là một trong nhiều câu chuyện về người chiến sĩ Gia Rai được xem là một trong những người có thành tích chiến đấu nổi bật trên chiến trường Tây Nguyên.

Cậu bé không đợi có súng mới đánh giặc

Kpa-Kơ-Lơng sinh năm 1948, dân tộc Gia Rai, quê tại xã I-a Pia, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

Tuổi thơ của ông gắn với nhiều mất mát.

Cha mất sớm.

Hai người anh bị đối phương đánh đập đến tàn phế.

Lớn lên giữa hoàn cảnh ấy, Kpa-Kơ-Lơng sớm tham gia hoạt động ở địa phương.

Nhưng khi còn quá nhỏ, ông chưa được chấp nhận vào đội du kích.

Không được cấp súng, ông tìm cách tự tạo phương tiện.

Kpa-Kơ-Lơng vót chông, đào hầm, làm cạm bẫy, sử dụng ná, tên thường và tên tẩm độc.

Theo tài liệu, bằng những phương tiện thô sơ ấy, ông đã diệt 8 đối phương.

Đến năm 15 tuổi, Kpa-Kơ-Lơng chính thức được tham gia du kích.

Từ đây, người thiếu niên Tây Nguyên bắt đầu bước vào những trận chiến thực sự.

Tự chọn trận địa, kiên trì chờ địch

Kpa-Kơ-Lơng không chỉ chờ nhiệm vụ được giao.

Nhiều lần, ông chủ động xin nhận vũ khí, tự nghiên cứu địa hình rồi lựa chọn nơi phục kích.

Có trận phải chờ rất lâu.

Ông vẫn kiên trì.

Theo tư liệu, trong những lần phục kích như vậy, Kpa-Kơ-Lơng đã diệt 32, làm bị thương 22 đối phương, phá hủy một xe và thu nhiều vũ khí mang về trang bị lại cho lực lượng du kích.

Khả năng quan sát địa hình và lựa chọn thời cơ dần khiến Kpa-Kơ-Lơng trở thành một chiến sĩ đặc biệt thích hợp với nhiệm vụ trinh sát.

Bị thương, một mình đối mặt với toán quân truy kích

Trong một trận phục kích trên đường vào dinh điền Lệ Ngọc, đơn vị của Kpa-Kơ-Lơng dự định đánh một trung đội đối phương.

Nhưng trận địa bị phát hiện trước.

Tình thế lập tức trở nên nguy hiểm.

Kpa-Kơ-Lơng nhanh chóng cho kích nổ mìn, gây tổn thất cho đối phương rồi cùng đơn vị rút khỏi khu vực.

Ông đi sau cùng.

Trên đường rút, Kpa-Kơ-Lơng bị thương và không thể tiếp tục di chuyển cùng đồng đội.

Phía sau, đối phương phát hiện dấu máu.

Họ lần theo.

Khoảng cách ngày càng gần.

Kpa-Kơ-Lơng không hoảng loạn.

Ông nằm lại chờ.

Khi những người đi đầu tiến vào tầm đánh, ông ném một quả lựu đạn.

Theo tư liệu, 3 người đi đầu bị diệt.

Ngay sau đó, Kpa-Kơ-Lơng tiếp tục dùng súng bắn vào đội hình đang truy kích.

Bị đánh bất ngờ, lực lượng đối phương phải rút lại.

Lúc ấy, Kpa-Kơ-Lơng mới tự băng bó vết thương, rồi một mình tìm đường trở về căn cứ.

Ba viên đạn và một ngày bám địch

Những trận chống càn là môi trường thể hiện rõ khả năng trinh sát và sự kiên trì của người chiến sĩ trẻ.

Có lần Kpa-Kơ-Lơng chỉ còn ba viên đạn.

Thay vì bắn từ xa rồi rút đi, ông bám theo đối phương từ sáng đến chiều.

Ông hiểu rằng ba viên đạn phải được sử dụng vào đúng thời điểm.

Kpa-Kơ-Lơng tìm cách tiếp cận thật gần, ẩn mình trong địa hình rừng núi.

Khoảng cách cuối cùng chỉ còn khoảng 5 mét.

Ông chờ đến khi đội hình đối phương tập trung thành hàng dọc mới nổ súng.

Theo tài liệu, kết quả của lần phục kích này là 7 đối phương bị diệt, 1 người bị thương.

Sau đó, Kpa-Kơ-Lơng lập tức rời vị trí và băng rừng trở về.

Chờ đối phương trên điểm cao

Khi quân Mỹ xuất hiện trên chiến trường Tây Nguyên, Kpa-Kơ-Lơng tiếp tục nghiên cứu cách hoạt động của họ.

Ông nhận thấy một đặc điểm: khi tác chiến, lực lượng này thường tìm cách chiếm các điểm cao có lợi.

Kpa-Kơ-Lơng quyết định biến chính thói quen ấy thành yếu tố phục vụ trận địa của mình.

Ông bố trí mìn trên tuyến hành quân rồi bí mật lên chiếm điểm cao trước.

Khi lực lượng từ Plây Me hành quân tới, một bộ phận vướng mìn.

Một tốp khác lập tức chạy lên điểm cao.

Nhưng Kpa-Kơ-Lơng đã nằm chờ ở đó.

Ông sử dụng lựu đạn đánh vào toán quân vừa tiến lên.

Theo tư liệu, 4 đối phương bị diệt.

Đó là một cách đánh tiêu biểu cho Kpa-Kơ-Lơng: quan sát quy luật, dự đoán hành động rồi lựa chọn vị trí có lợi để phục kích.

Từ du kích làng đến trinh sát

Tháng 3/1965, Kpa-Kơ-Lơng chính thức nhập ngũ, làm nhiệm vụ trinh sát cho bộ đội huyện.

Ông bước vào chiến trường Plây Me trong thời điểm chiến sự ngày càng quyết liệt.

Một lần trên đường thực hiện nhiệm vụ, Kpa-Kơ-Lơng bắt gặp một đơn vị bạn đang chiến đấu.

Không đứng ngoài, ông chủ động tham gia cùng đơn vị.

Theo tư liệu, trong trận này ông trực tiếp diệt 2 lính Mỹ và 2 lính đối phương.

Hoàn thành trận đánh, Kpa-Kơ-Lơng vẫn tiếp tục đi thực hiện nhiệm vụ ban đầu.

Trên đường, ông lại gặp lực lượng Mỹ đang càn.

Kpa-Kơ-Lơng phối hợp với du kích địa phương tổ chức đánh mìn, phá hủy một xe quân sự trên đường số 19.

Tháng 5/1966, khi đối phương càn vào khu căn cứ, ông cùng tổ trinh sát vừa theo dõi tình hình vừa trực tiếp chiến đấu.

Đó chính là đặc điểm nổi bật của người trinh sát trẻ: không chỉ tìm địch mà khi cần còn trực tiếp đánh địch.

Người con Gia Rai giữa chiến trường Tây Nguyên

Kpa-Kơ-Lơng còn rất trẻ khi lập những chiến công được ghi nhận trong hồ sơ tuyên dương.

Theo tư liệu, trong thời gian hoạt động du kích, ông cùng đơn vị tham gia 12 trận, bản thân trực tiếp diệt 124 đối phương, trong đó có 6 lính Mỹ; phá hủy 7 xe quân sự và 25 lần tham gia phá đường giao thông, phá “ấp chiến lược”.

Sau khi vào bộ đội, ông tiếp tục tham gia 7 trận, cùng đơn vị diệt 18 đối phương, phá hủy một xe M.113 và thu 4 súng.

Ông được đánh giá là người trinh sát gan dạ, đánh mìn giỏi, bắn súng tốt, nhiều năm được bầu Chiến sĩ thi đua, được tặng 2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất cùng nhiều bằng, giấy khen.

Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Kpa-Kơ-Lơng được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

Câu chuyện của Kpa-Kơ-Lơng đặc biệt bởi ông bước vào cuộc chiến khi tuổi đời còn rất trẻ.

Từ một cậu bé chưa được nhận vào du kích nên tự vót chông, đào hầm và làm cạm bẫy, Kpa-Kơ-Lơng đã trưởng thành thành người trinh sát của núi rừng Tây Nguyên – gan dạ, kiên trì và đặc biệt giỏi tận dụng địa hình, thời cơ trong chiến đấu.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn