Anh hùng Lực lượng vũ trang

Kpa Kơ Lơng với Cánh nỏ giữa đại ngàn

TP. Hồ Chí Minh14/08/2026Trương Nguyễn Việt Lam ((LĐ) Đoàn phường Cam Ly - Đà Lạt)8 lượt xem0 lượt chia sẻ

Giữa những năm tháng khốc liệt của cuộc Kháng chiến chống Mỹ trên chiến trường Tây Nguyên, hình ảnh những buôn làng kiên cường bám đất, giữ rừng luôn gắn liền với những người con quả cảm của đồng bào các dân tộc thiểu số. Trong số những tấm gương tiêu biểu ấy, câu chuyện về người dũng sĩ diệt Mỹ Kpa Kơ Lơng (1948 – 1975) – người con của núi rừng Gia Lai – đã trở thành một biểu tượng mộc mạc về lòng yêu nước, tinh thần mưu trí và ý chí tự lực tự cường của đồng bào Tây Nguyên.

Kpa Kơ Lơng sinh ra tại xã Ia Ke, huyện Ayun Pa (nay thuộc huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai). Tuổi thơ của anh gắn liền với cảnh buôn làng bị bom đạn tàn phá, cha bị địch sát hại dã man trong các đợt càn quét, gom dân lập "ấp chiến lược". Nỗi đau mất người thân và cảnh quê hương bị chà đạp đã sớm hun đúc trong lòng cậu bé người Gia Lai ý chí căm thù giặc sâu sắc. Khi mới 13–14 tuổi, Kpa Kơ Lơng đã nhiều lần xin gia nhập đội du kích xã nhưng các chú, các anh từ chối vì thấy anh còn quá nhỏ, vóc dáng thấp bé chưa mang nổi khẩu súng trường. Không nản lòng, anh tự tay đẽo một cây nỏ bằng gỗ rừng, vót từng mũi tên tre tẩm nhựa cây độc để tự mình đánh giặc theo cách của người rừng núi. Chiến công đầu đời của Kpa Kơ Lơng diễn ra đầy táo bạo: một mình anh mai phục bên bìa rừng, dùng nỏ bắn hạ lính tuần tra đi lẻ của địch, sau đó dũng cảm xông ra thu súng và đạn dược mang về nộp lại cho tổ chức du kích. Bằng chính sự gan dạ và những chiến lợi phẩm thực tế ấy, anh đã thuyết phục được cấp chỉ huy kết nạp mình vào lực lượng du kích địa phương khi tuổi đời còn rất trẻ.

Trở thành chiến sĩ du kích rồi sau đó là bộ đội địa phương thuộc Tỉnh đội Gia Lai, Kpa Kơ Lơng nhanh chóng bộc lộ tài năng thiện xạ và óc quan sát địa hình rừng núi thiên bẩm. Trong điều kiện tiếp tế vũ khí ở chiến trường miền núi vô cùng thiếu thốn, anh luôn rèn luyện cho mình nguyên tắc tác chiến chính xác tuyệt đối: "Mỗi viên đạn một quân thù". Anh thường kiên nhẫn ẩn nấp trên những tán cây cổ thụ hay hốc đá ven các tuyến đường hành quân của địch, chờ đối phương lọt vào cự ly thật gần mới nổ súng đánh tỉa, gây tâm lý hoang mang tột độ cho các đơn vị đi càn. Không chỉ đánh tỉa giỏi, Kpa Kơ Lơng còn mưu trí tận dụng những quả mìn tự chế, bom bi lép của địch nhặt về để cài bẫy phục kích đoàn xe quân sự cơ giới trên đường số 14. Bằng cách gài mìn liên hoàn và chọn đúng góc cua hiểm trở, anh cùng đồng đội đã phá hủy hàng chục xe quân sự, bẻ gãy nhiều đợt hành quân càn quét của quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn vào vùng giải phóng.

Trong suốt những năm tháng tham gia chiến đấu từ năm 1962 đến 1975, người chiến sĩ ấy đã trực tiếp tham gia hàng trăm trận đánh, tiêu diệt và làm bị thương nhiều sinh lực đối phương, trở thành tấm gương sáng ngời trong phong trào "Dũng sĩ diệt Mỹ" toàn miền Nam.

Năm 1965, khi vừa tròn 17 tuổi, Kpa Kơ Lơng vinh dự được cử đi dự Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam lần thứ nhất. Ngày 17/9/1967, anh được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Mùa xuân năm 1975, trong chiến dịch Tây Nguyên giải phóng quê hương, Kpa Kơ Lơng lúc này là cán bộ chỉ huy trinh sát vẫn xông xáo trên tuyến đầu. Anh đã anh dũng hy sinh vào tháng 3/1975 ngay trên mảnh đất quê nhà Gia Lai – chỉ ít ngày trước khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối. Để tri ân công ơn của người anh hùng trẻ tuổi, tên của Kpa Kơ Lơng ngày nay được đặt trang trọng cho nhiều trường học, con đường và công viên tại tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk cùng nhiều địa phương trên cả nước.

Nhìn lại cuộc đời của Anh hùng Kpa Kơ Lơng, ta thấy hiện lên một nét đẹp rất riêng của người lính Tây Nguyên: chất phác, kiên định và gắn bó máu thịt với rừng già, buôn làng. Từ một cậu bé cầm nỏ tre đứng lên bảo vệ gia đình đến một dũng sĩ kiên cường nơi tuyến lửa, hành trình của anh là minh chứng mộc mạc cho sức mạnh của lòng yêu nước khi được đánh thức. Sự hy sinh của anh ở ngưỡng cửa hòa bình là nốt lặng thiêng liêng, nhắc nhở thế hệ hôm nay luôn biết ơn và trân trọng từng tấc đất quê hương đã được gìn giữ bằng máu xương của đồng bào các dân tộc Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn