KTML&ĐHKK 1 9+ K5 - ĐOÀN KHOA ĐIỆN - ĐIỆN TỬ (25)
Chủ tịch Hồ Chí Minh – Vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc
Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ thiên tài, Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất và là người sáng lập, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuộc đời của Người gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Với lòng yêu nước nồng nàn, ý chí kiên cường và đức hy sinh cao cả, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn đời mình vì hạnh phúc của nhân dân và sự phát triển của đất nước. Tên tuổi của Người mãi mãi được khắc ghi trong lịch sử dân tộc và được bạn bè quốc tế kính trọng.
Hồ Chí Minh tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 tại làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Sau này Người đổi tên thành Nguyễn Tất Thành, rồi Nguyễn Ái Quốc và cuối cùng lấy tên Hồ Chí Minh. Cha của Người là cụ Nguyễn Sinh Sắc, một nhà nho có tư tưởng tiến bộ, luôn quan tâm đến cuộc sống của nhân dân. Mẹ là bà Hoàng Thị Loan, người phụ nữ hiền hậu, chịu thương chịu khó và có ảnh hưởng lớn đến nhân cách của Người.
Ngay từ nhỏ, Nguyễn Tất Thành đã chứng kiến cảnh nhân dân lầm than dưới ách đô hộ của thực dân Pháp. Người sớm nuôi dưỡng lòng yêu nước và luôn trăn trở tìm con đường giải phóng dân tộc. Sau thời gian học tập tại Huế và Phan Thiết, ngày 5 tháng 6 năm 1911, với khát vọng tìm đường cứu nước, Người rời Bến Nhà Rồng trên con tàu Amiral Latouche-Tréville để bắt đầu hành trình bôn ba khắp năm châu.
Trong gần ba mươi năm hoạt động ở nước ngoài, Hồ Chí Minh đã đi qua nhiều quốc gia ở châu Âu, châu Phi, châu Mỹ và châu Á. Người vừa lao động để kiếm sống, vừa học tập, nghiên cứu và tìm hiểu nhiều con đường cách mạng khác nhau. Từ thực tế quan sát, Người nhận thấy muốn giải phóng dân tộc thì phải có một con đường đúng đắn và một tổ chức cách mạng đủ sức lãnh đạo nhân dân.
Năm 1919, với tên gọi Nguyễn Ái Quốc, Người gửi "Bản yêu sách của nhân dân An Nam" tới Hội nghị Hòa bình Versailles, yêu cầu các quyền tự do và bình đẳng cho nhân dân Việt Nam. Mặc dù bản yêu sách không được chấp nhận, nhưng đây là lần đầu tiên tiếng nói của dân tộc Việt Nam được vang lên trên diễn đàn quốc tế.
Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham gia Đại hội Tours của Đảng Xã hội Pháp và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ đây, Người xác định con đường cách mạng vô sản là con đường đúng đắn để giải phóng dân tộc Việt Nam.
Trong những năm tiếp theo, Hồ Chí Minh tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, đào tạo cán bộ cách mạng và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc thành lập một chính đảng của giai cấp công nhân. Ngày 3 tháng 2 năm 1930, dưới sự chủ trì của Người tại Hồng Kông, ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam được hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là bước ngoặt quan trọng của cách mạng Việt Nam.
Đầu năm 1941, sau ba mươi năm xa Tổ quốc, Hồ Chí Minh trở về nước, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Người chọn Pác Bó (Cao Bằng) làm căn cứ hoạt động và thành lập Mặt trận Việt Minh nhằm đoàn kết toàn dân chống phát xít Nhật và thực dân Pháp.
Tháng Tám năm 1945, khi thời cơ đến, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi cả nước. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc và xây dựng đất nước.
Sau khi đất nước giành độc lập, chính quyền non trẻ phải đối mặt với vô vàn khó khăn như nạn đói, nạn mù chữ, nền kinh tế kiệt quệ và sự quay trở lại của thực dân Pháp. Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra nhiều chủ trương đúng đắn như phát động phong trào tăng gia sản xuất, bình dân học vụ để xóa nạn mù chữ và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân.
Khi thực dân Pháp phát động chiến tranh xâm lược lần thứ hai, Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến ngày 19 tháng 12 năm 1946 với tinh thần: "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ." Dưới sự lãnh đạo của Người và Đảng, nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ và giành thắng lợi với đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954.
Sau Hiệp định Genève, miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời tiếp tục đấu tranh vì mục tiêu thống nhất đất nước. Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến đời sống nhân dân, giáo dục thế hệ trẻ và xây dựng đạo đức cách mạng. Người căn dặn cán bộ, đảng viên phải "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư", lấy lợi ích của nhân dân làm mục tiêu cao nhất.
Không chỉ là một nhà cách mạng, Hồ Chí Minh còn là nhà văn, nhà thơ và nhà văn hóa lớn. Các tác phẩm như Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường Kách mệnh, Nhật ký trong tù và nhiều bài thơ, bài báo của Người đều mang giá trị sâu sắc về tư tưởng, văn học và lịch sử. Năm 1987, UNESCO đã tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, ghi nhận những đóng góp to lớn của Người đối với sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và văn hóa nhân loại.
Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời tại Hà Nội, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho toàn thể nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế. Trước lúc đi xa, Người để lại bản Di chúc thiêng liêng, căn dặn toàn Đảng, toàn dân phải giữ gìn đoàn kết, chăm lo đời sống nhân dân, bồi dưỡng thế hệ trẻ và xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.
Ngày nay, tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh vẫn là nền tảng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tên của Người được đặt cho Thủ đô mang tên Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều trường học, công trình, bảo tàng và di tích lịch sử trên cả nước. Cuộc đời giản dị, thanh cao cùng những cống hiến vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi là tấm gương sáng để các thế hệ người Việt Nam học tập, noi theo và tự hào. Người sẽ mãi mãi sống trong trái tim của dân tộc Việt Nam như một biểu tượng bất diệt của lòng yêu nước, ý chí độc lập và khát vọng hòa bình.



