KVHDLCTXH_BÙI THỊ MÈ- NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM VĨ ĐẠI
BÙI THỊ MÈ- NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM VĨ ĐẠI
Mẹ Việt Nam Anh hùng Bùi Thị Mè hay còn gọi thân thương là Mẹ Năm Mè nó không chỉ là một cái tên trong danh sách những người mẹ anh hùng, mà là một vết thương sống động, một trái tim rỉ máu nhưng vẫn đập mạnh mẽ vì Tổ quốc, vì độc lập, vì tự do của dân tộc Việt Nam.
Sinh ngày 26 tháng 6 năm 1921 tại Quới An, Vũng Liêm, Vĩnh Long, trong gia đình trí thức ấm áp, Mẹ được cha mẹ , ông Bùi Văn Tám và bà Võ Thị Quý dạy dỗ chu đáo, học hành giỏi giang. Bà từng học Trường Nữ học đường Vĩnh Long, rồi lên Sài Gòn thi đỗ Trường Nữ trung học Gia Long, đậu bằng Thành chung năm 1940. Một cô gái trẻ đẹp, thông minh, có thể chọn cuộc sống yên bình bên chồng – ông Nguyễn Văn Nhơn, một trí thức yêu nước ở Mỏ Cày, Bến Tre, nhưng ngọn lửa yêu nước đã thiêu đốt trong tim bà, khiến bà chọn con đường đầy chông gai: con đường cách mạng.
Năm 1950, Mẹ cùng gia đình chuyển về xã Đức Mỹ (Càng Long, Trà Vinh), mở trường tư thục, vừa dạy học vừa bí mật nuôi giấu cán bộ, làm liên lạc. Bà trở thành Tổng thư ký Hội Phụ nữ tỉnh, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Chẩn tế Xã hội tỉnh Trà Vinh, rồi hoạt động ở Khu ủy Tây Nam Bộ, rút về chiến khu R. Khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời, Mẹ được giao trọng trách Thứ trưởng Bộ Y tế - Xã hội và Thương binh, là Ủy viên Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, Phó Chủ tịch Hội Nhà giáo yêu nước miền Nam… Một người phụ nữ trí thức mảnh mai, nhưng chí thép, kiên cường vượt qua bom đạn, tù đày, gian khổ.
Nhưng nỗi đau lớn nhất, sâu thẳm nhất, xé nát trái tim Mẹ chính là sự hy sinh của ba người con trai, những đứa con bà mang nặng đẻ đau, nuôi dưỡng bằng tất cả tình yêu thương của một người mẹ. Chỉ trong một tuần lễ ngắn ngủisau Tết Mậu Thân 1968 khi cả dân tộc đang sục sôi với những trận đánh quyết liệt khi nghe tin dữ ập đến như ba lưỡi dao sắc nhọn cứa thẳng vào tim Mẹ, rồi thêm một nhát nữa khiến trái tim bà rỉ máu không ngừng:
• Con trai lớn Nguyễn Huỳnh Sanh (Bé Hai); chàng trai 26 tuổi đẹp trai kiểu nghệ sĩ, hay cười, hay hát, hy sinh ở chiến trường T4.
• Con trai thứ Nguyễn Huỳnh Tài (Bé Ba); 24 tuổi, mạnh mẽ, quyết liệt và cũng ngã xuống cùng đơn vị, cùng thời điểm.
• Con trai út Nguyễn Huỳnh Đại (Bé Tư); mới 22 tuổi, còn non nớt lắm, mới chớm tuổi thanh xuân, hy sinh ở mặt trận Vĩnh Long.
• Và rồi, tin cuối cùng như giọt nước tràn ly; con trai còn lại Nguyễn Huỳnh Đạo (Bé Năm) bị thương nặng, trở thành thương binh, được đưa về quân y viện trong tình trạng nguy kịch.
Mẹ kể lại trong những trang viết đẫm lệ, giọng run rẩy như xé toạc từng mảnh linh hồn:
“Trời ơi! Sao lại là cả hai… Hai phát súng bắn vào tim cùng một lúc! Tôi như lơ lửng giữa hư không, đầu óc trống rỗng, không biết mình đang đứng đâu, sống hay chết. Như cái xác không hồn, tôi lảo đảo về lán, quăng mình lên võng. Nước mắt tuôn dầm như suối chảy, không kìm được, không muốn kìm. Ruột gan quặn thắt như dao cắt, đau đến mức thở cũng không nổi. Tay chân bủn rủn, cơ thể như mất trọng lượng, rơi tự do vào vực thẳm. Tôi không khóc thành tiếng, nhưng nước mắt cứ tuôn, tuôn mãi không ngừng… Nuốt cơm như nuốt sỏi đá, nghẹn ngào đến mức cổ họng tê cứng. Đau đứt ruột, đau đến mức muốn chết theo các con!”
Ban ngày, Mẹlùa nước mắt vào tim, nghiến chặt răng đến chảy máu, thu hết chút sức lực cuối cùng để đứng vững, mỉm cười với đồng chí, tiếp tục công việc cách mạng không ngừng nghỉ. Không ai dám hỏi han, vì ánh mắt bà đã nói hết nỗi đau này là một nỗi đau quá lớn, không lời nào an ủi nổi. Ban đêm, trong rừng miền Đông sâu thẳm, tiếng chim kêu “mẹ ơi… mẹ ơi…” vang vọng như hàng ngàn lưỡi dao đâm vào tim. Bà nằm võng ướt đẫm nước mắt, không sao khô được, suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể đến mức tưởng chừng không thể chịu nổi thêm giây nào.
Nỗi đau ấy khiến Mẹ tưởng chừng gục ngã, nhưng rồi trong cơn tuyệt vọng tột cùng, bà tự hỏi lòng mình:
“Tôi sẽ gục ngã vì nỗi đau quá lớn này sao? Hàng triệu bà mẹ khác cũng mất con, họ vẫn đứng dậy, vẫn chiến đấu. Không! Tôi không thể ngã. Kẻ thù còn đó, đồng bào còn bị giết hại, các con tôi đã hy sinh vì độc lập, tôi phải sống để hoàn thành sự nghiệp các con bỏ dở. Các con tôi sẽ tự hào về mẹ, như mẹ đã tự hào về các con đến giây phút cuối cùng!”
Và Mẹ đã đứng dậy. Từ đống tro tàn của nỗi đau mất ba đứa con yêu, bà biến nỗi đau thành chí thép, thành ngọn lửa không gì dập tắt nổi. Bà tiếp tục công việc, tiếp tục hy sinh, để rồi ngày non sông thống nhất, bà mới khóc, khóc vì các con không kịp thấy ngày ấy, nhưng cũng khóc vì tự hào: các con đã chọn đúng con đường.
Mẹ Năm Mè ơi…
Nỗi đau của Mẹ là nỗi đau của cả dân tộc, là minh chứng sống động nhất cho câu nói: “Mẹ Việt Nam không chỉ sinh con, mà còn sinh ra cả tự do”. Những giọt nước mắt của Mẹ đã thấm sâu vào đất mẹ, nở thành những bông hoa đỏ thắm của hòa bình, mãi mãi khắc ghi trong tim con cháu đời đời.



