KVHDLCTXH_Câu chuyện thời hoa lửa đồng chí Phạm Văn Đồng
Câu chuyện thời hoa lửa
ĐỒNG CHÍ PHẠM VĂN ĐỒNG
Đồng chí Phạm Văn Đồng là vị Thủ tướng tại vị lâu nhất (32 năm), ông điều hành đất nước qua hai cuộc kháng chiến, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, chi viện miền Nam và phát triển kinh tế - xã hội sau năm 1975. Suốt 94 năm cuộc đời và hơn 75 năm dấn thân không mệt mỏi, dấu chân của đồng chí Phạm Văn Đồng đã in đậm từ những lớp huấn luyện bí mật tại Quảng Châu, qua “địa ngục trần gian” Côn Đảo, cho đến những năm tháng chèo lái "con thuyền" Chính phủ trên cương vị Thủ tướng. Không chỉ là một cộng sự tin cậy, một học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông còn là người đã cụ thể hóa tư tưởng, đạo đức của Người thành lối sống, hành động và di sản tinh thần vô giá cho hậu thế. Ở ông, không chỉ có hình ảnh của một nhà lãnh đạo tận tụy, trọn đời vì nước vì dân, mà còn thấy hiện hữu một tấm gương đạo đức cách mạng. Năm 1926, tại ngôi trường Bưởi danh tiếng, có một người thanh niên dáng hình mảnh khảnh nhưng ánh mắt sáng quắc đang đứng trước một ngưỡng cửa định mệnh. Đó là Phạm Văn Đồng, khi ấy vừa tròn 20 tuổi. Sinh ra tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi - mảnh đất "núi Ấn, sông Trà" vốn nổi tiếng với truyền thống hiếu học và khí phách kiên cường, ông là con trai của cụ Phạm Văn Nga, một vị quan thanh liêm từng giữ chức Thị giảng học sĩ, dạy vua Duy Tân học, và Tham biện nội các, được ban hàm Tam phẩm. Với nền tảng gia đình như vậy, cùng tấm bằng Tú tài sắp chạm tay tại một trong những ngôi trường danh giá nhất Đông Dương (Trường Bưởi), con đường tương lai của ông đã được trải thảm đỏ: Một vị trí vững chắc trong bộ máy quan trường, một đời sống vinh hoa và sự nể trọng của xã hội đương thời. Thế nhưng, trong sâu thẳm lòng người thanh niên ấy là nỗi thao thức không nguôi về vận mệnh dân tộc. Sống giữa kinh thành Huế rồi ra Hà Nội học tập, ông tận mắt chứng kiến cảnh những người dân lao động bị đánh đập, bị sỉ nhục bởi những tên cai trị thực dân. Ông thấu hiểu cái nỗi nhục nô lệ mà những trí thức yêu nước đương thời thường nhắc đến.
Những tư tưởng của Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu đã gieo những mầm đầu tiên nhưng phải đến khi phong trào bãi khóa đòi để tang cụ Phan Chu Trinh và đòi thả cụ Phan Bội Châu diễn ra mới thổi bùng ngọn lửa yêu nước, khát khao độc lập dân tộc trong ông. Phạm Văn Đồng đã thực hiện một quyết định làm chấn động gia đình và bạn bè: Từ bỏ kỳ thi tốt nghiệp, rời bỏ Trường Bưởi để dấn thân vào con đường hoạt động bí mật đầy rẫy gian nan, hiểm nguy. Qua những tấm ảnh và tài liệu truyền tay bí mật, ông biết đến "người thầy cách mạng" Nguyễn Ái Quốc. Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Quảng Châu (Trung Quốc) như một "thỏi nam châm" thu hút tâm hồn ông. Năm 1926, ông bí mật sang Quảng Châu, tham gia lớp huấn luyện chính trị và trực tiếp được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dìu dắt. Tại đây, người thanh niên họ Phạm đã tìm thấy câu trả lời cho mọi trăn trở bấy lâu. Ông không còn là "cậu ấm" nhà quan nữa, mà đã tôi luyện nên một Phạm Văn Đồng kiên định, người nguyện "dùng cả đời mình để phụng sự Tổ quốc", bắt đầu từ những bước chân đầu tiên trên con đường vạn dặm đầy gian khổ nhưng cũng đầy vinh quang của lý tưởng cộng sản.
Tháng 7/1929, giữa lúc hoạt động cách mạng tại Nam Kỳ đang khẩn trương, ông bị mật thám Pháp bắt giữ tại ga Sài Gòn. Tại cơ quan cảnh sát, kẻ thù đã đưa ra tấm ảnh ông chụp tại Quảng Châu cùng bản báo cáo mật đã bị lộ để uy hiếp. Thế nhưng, đứng trước họng súng và sự xảo quyệt của kẻ thù, ông vẫn giữ thái độ bình tĩnh, thừa nhận lý tưởng mình theo đuổi nhưng tuyệt đối bảo vệ tổ chức. Ngày 25/6/1930, tòa án thực dân tuyên án ông 10 năm tù giam và đày ra Côn Đảo. Tại đây, ông bị giam giữ tại Banh 2 - nơi nổi tiếng với chế độ cầm cố khắc nghiệt, mỗi ngày tù nhân chỉ được ra ngoài 10 phút để ăn bát cơm hẩm đầy sạn. Thiếu ánh sáng, khí trời và dinh dưỡng khiến nhiều đồng chí hy sinh vì bệnh tật, nhưng Phạm Văn Đồng vẫn kiên cường đứng vững. Trong bóng tối của xiềng xích, ông đã tích cực tham gia dạy văn hóa, chính trị và ngoại ngữ cho các đồng chí của mình. Với tư chất thông minh và giỏi tiếng Pháp, ông trực tiếp lược dịch, tóm tắt các tác phẩm kinh điển của C. Marx và F. Engels để giảng giải cho anh em. Bản lĩnh của Phạm Văn Đồng còn thể hiện qua những cuộc đấu tranh trực diện với bọn cai ngục. Ông được bầu vào ban lãnh đạo Banh 2, luôn đi đầu trong các cuộc tuyệt thực, đấu tranh đòi cải thiện chế độ giam cầm và đòi đặc xá tù chính trị. Tinh thần thép của ông không chỉ làm kẻ thù khiếp sợ mà còn cảm hóa được cả những người tù thuộc các xu hướng chính trị khác, khiến họ dần ngả theo lập trường vô sản. 7 năm bị đày ải (1929-1936) đã làm sức khỏe ông suy kiệt, bệnh phổi tái phát, nhưng lại làm tâm hồn và trí tuệ ông trở nên sắc bén hơn bao giờ hết. Côn Đảo không khuất phục được ông, ngược lại, nó đã tôi luyện nên một nhà lãnh đạo bản lĩnh, mẫn cán và đầy nhân văn, sẵn sàng cho những trọng trách lớn lao của dân tộc sau này.
Năm 1955, giữa bộn bề công việc của một quốc gia vừa bước ra khỏi cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, đồng chí Phạm Văn Đồng được Đảng và Nhà nước tin tưởng giao trọng trách Thủ tướng Chính phủ. Suốt 32 năm trên cương vị này (1955-1987) - một kỷ lục trong lịch sử chính trị hiện đại Việt Nam - ông đã điều hành bộ máy hành chính, với tinh thần làm việc không mệt mỏi, thực hiện những quyết sách mang tính chiến lược, dẫn dắt dân tộc qua hai thời kỳ: Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; Xây dựng và tìm đường đổi mới kinh tế.
Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, hình ảnh vị Thủ tướng dáng người thanh mảnh, mặc bộ quần áo kaki sờn bạc màu, có mặt tại các công trường, nhà máy hay những vùng quê bị bom đạn cày xới đã trở nên quá đỗi quen thuộc. Ông không ngồi yên trong phòng làm việc để nghe báo cáo mà đi vào thực tiễn để lắng nghe hơi thở của đời sống. Ông luôn nhắc nhở cán bộ: Phải tiến hành đồng thời việc đổi mới công tác quản lý kinh tế với công tác quần chúng... Với ông, mọi chính sách nếu không xuất phát từ lợi ích của nhân dân và không được nhân dân ủng hộ thì chỉ là những con chữ khô khan trên giấy.
Đặc biệt, trong giai đoạn chuyển mình đầy khó khăn của đất nước sau năm 1975, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thể hiện một tầm nhìn đổi mới sắc sảo. Tại các phiên họp của Hội đồng Bộ trưởng, ông luôn nhấn mạnh vào việc phá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp để giải phóng sức sản xuất. Ông là người cổ vũ mạnh mẽ cho những "khoán mới" trong nông nghiệp, những thử nghiệm đổi mới trong công nghiệp. Bản lĩnh của ông nằm ở chỗ dám nhìn thẳng vào những sai lầm, khuyết điểm của bộ máy và kiên quyết tìm đường ra cho nền kinh tế dân tộc. Nhưng có lẽ, điều khiến nhân dân nhớ về ông nhiều nhất chính là sự giản dị và lòng nhân ái bao la. Dù ở vị trí đỉnh cao quyền lực, ông vẫn giữ một nếp sống thanh bạch. Căn nhà của ông đơn sơ, bữa ăn đạm bạc, và hơn hết là thái độ tôn trọng tuyệt đối dành cho mọi tầng lớp nhân dân. Ông dành sự quan tâm đặc biệt cho ngành giáo dục và y tế - hai trụ cột mà ông coi là nền tảng của một quốc gia văn minh. Mỗi lần đi thăm các trường học hay bệnh viện, ông không chỉ kiểm tra công việc mà còn ân cần hỏi han điều kiện sống của từng giáo viên, bác sĩ và các em nhỏ. Trong quan hệ với các lãnh đạo các bộ, ngành, ông vừa là một vị chỉ huy nghiêm khắc về kỷ luật, vừa là một người anh, người đồng chí chân thành. Ông kiên quyết chống lại thói quan liêu, cửa quyền, coi đó là "kẻ thù nội xâm" tàn phá niềm tin của nhân dân vào chế độ. Đối với ông, chức vụ Thủ tướng không phải là quyền lực để hưởng thụ, mà là trọng trách lớn lao do nhân dân tin tưởng ủy thác và mong đợi. 32 năm ở vị trí "đầu sóng ngọn gió", trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã để lại một di sản đồ sộ: Một nền hành chính phục vụ, một tư duy đổi mới quyết liệt và hơn hết là hình ảnh một "người đầy tớ trung thành" của nhân dân.
Hành trình 94 năm cuộc đời và 75 năm liên tục hoạt động cách mạng của Thủ tướng Phạm Văn Đồng là sự nhất quán đến kỳ lạ giữa lời nói và việc làm, giữa lý tưởng và hành động. Từ một người thanh niên trí thức dám từ bỏ tương lai nhàn hạ để dấn thân vào con đường giải phóng dân tộc, đến vị Thủ tướng mẫn cán suốt 32 năm, Phạm Văn Đồng luôn giữ cho mình một tâm thế tự tại, thanh bạch và hết lòng vì dân, vì nước. Ông chính là hiện thân sinh động của việc học tập và thực hành xuất sắc phong cách đạo đức Hồ Chí Minh – một phong cách "nhìn xa thấy rộng, tinh tế và linh hoạt, kiên cường và mềm dẻo". Đạo đức của Phạm Văn Đồng không phải là những gì giáo điều hay xa vời. Nó hiện hữu trong sự tận tụy với công việc, trong lối sống giản dị, trong tình cảm chan hòa với đồng bào và sự thấu hiểu sâu sắc nguyện vọng của nhân dân. Ông đã để lại cho các thế hệ mai sau bài học vô giá về lòng liêm chính, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc và bản lĩnh chính trị sáng suốt trước mọi thời cuộc. Tên tuổi đồng chí Phạm Văn Đồng không chỉ gắn liền với những chiến công hiển hách trong Cách mạng Tháng Tám 1945, hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc hay những kỳ tích trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mà còn sống mãi trong lòng người dân như một "nhà văn hóa lớn của dân tộc". Tấm gương đạo đức cách mạng trong sáng của ông sẽ mãi là ngọn đuốc soi đường, nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ hôm nay về trách nhiệm phụng sự Tổ quốc và nhân dân.
Non sông Việt Nam, "núi Ấn, sông Trà" sẽ mãi tự hào vì đã sinh ra một người con ưu tú như ông – người đã sống một cuộc đời trọn nghĩa vẹn tình, một tên tuổi "sống mãi" trong sự nghiệp cách mạng và trong trái tim của mỗi người dân Việt Nam.


