Khác

KỶ NIỆM 57 NĂM CHIẾN THẮNG PLEI ME (19/11/1965 - 19/11/2022).

Chiến dịch Plei Me dấu ấn lịch sử và có ý nghĩa quan trọng trong nghệ thuật quân sự Việt Nam

Gia Lai10/04/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

I-1. Bối cảnh lịch sử

Trước những diễn biến mới trên chiến trường miền Nam, từ ngày 25 đến 27/3/1965, Hội nghị Trung ương lần thứ 11 của Đảng ta đã nhận định “tình hình một nửa nước có chiến tranh, một nửa nước có hòa bình đã biến thành cả nước có chiến tranh”. Trong phiên bế mạc Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa III từ ngày 7 đến 10/4/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi: “Lúc này, chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Namyêu nước”... “Tất cả chúng ta hãy đoàn kết nhất trí triệu người như một, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.

Cuối tháng 3/1965, Quân khu V triệu tập Hội nghị du kích chiến tranh để bàn kế hoạch xây dựng cũng cố dân quân, du kích, xây dựng “làng chiến đấu”, xây dựng “vành đai diệt Mỹ” và phát động phong trào thi đua giành danh hiệu “Thiện xạ diệt Mỹ”.

Ở địa phương, để củng cố thêm sức mạnh, tạo đà tiến công địch trong tình hình mới, cuối tháng 8/1965, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện 5 (Chư Prông) tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ II, tại làng Griêng, xã E7 (Ia Bòng). Đại hội đã thông qua Nghị quyết: Kiên quyết “diệt ác”, “phá kìm”, không cho chúng dồn dân, lập vành đai trắng, “tát nước bắt cá”. Đoàn kết toàn dân, tăng cường sản xuất, tự túc lương thực tại chỗ, ổn định đời sống nhân dân.

Để đủ sức chiến đấu với lực lượng quân sự khổng lồ của kẻ thù, bên cạnh lực lượng của Mặt trận Tây Nguyên, tỉnh Gia Lai đã tăng cường lực lượng chiến đấu bằng cách phát triển và củng cố lực lượng vũ trang địa phương. Cùng với việc xây dựng lực lượng vũ trang, huyện 5 cũng chú ý xây dựng cơ sở trong lòng địch.

Về phía địch, để cứu vãn tình hình sau sự phá sản hoàn toàn của chiến lược chiến tranh đặc biệt, ngày 7/6/1965, tướng Oétmolen yêu cầu Chính phủ Mỹ tăng quân chiến đấu Mỹ ở miền Nam lên 44 tiểu đoàn. Ngày 17/7/1965, khi Tổng thống Giôn-xơn thông báo quyết định đưa 44 tiểu đoàn Mỹ vào miền Nam Việt Nam và chấp nhận chiến lược “tìm diệt” của Oétmolen thì cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã bước sang giai đoạn chiến lược “chiến tranh cục bộ”.

Tháng 9 năm 1965, Bộ chỉ huy quân Mỹ đã điều Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 lên án ngữ ở An Khê (Gia Lai), ngăn chặn Quân đội nhân dân Việt Nam, cắt Tây Nguyên cùng với đồng bằng ven biển. Quân Việt Nam cộng hòa thành lập Biệt khu 24 gồm 2 tỉnh Kon Tum - Gia Lai và chuyển giao nhiệm vụ tác chiến chủ yếu ở Tây Nguyên cho quân Mỹ để thực hiện kế hoạch "tìm và diệt" trong chiến lược “chiến tranh cục bộ”.

Đối với Tây Nguyên, Mỹ đưa quân lên với tham vọng tiêu diệt quân chủ lực của ta, dập tắt phong trào cách mạng của nhân dân, chiếm lại đất, gom lại dân, củng cố hệ thống ấp chiến lược, dinh điền đã bị phá rã, tiếp thêm sức mạnh cho quân ngụy, gỡ lại thế trận bi đát của chúng sau mùa khô 1965. Mỹ tăng quân ở Tây Nguyên cũng nhằm tăng cường sức chiến đấu cho lực lượng chủ lực và địa phương, thực hiện ý đồ co cụm lớn, bảo vệ những nơi xung yếu như quận lỵ, thị trấn, thị xã, đường giao thông chiến lược, ngăn chặn ta tiến công. Gia Lai là địa bàn quân viễn chinh Mỹ và chư hầu đến sớm nhất Tây Nguyên.

Trên địa bàn huyện 5 (Chư Prông), chúng xây dựng căn cứ Plei Me, cách Pleiku khoảng 30km về phía Tây Nam, thành một trung tâm huấn luyện biệt kích, là tiền đồn bảo vệ mặt trận Tây Nam Pleiku, là bàn đạp của các cuộc hành quân của địch đánh phá vùng căn cứ của ta ở khu 5. Trung tâm này được Mỹ-ngụy xếp vào loại vị trí biên phòng mạnh và hiểm yếu của chúng, là mắt xích quan trọng trong dải phòng ngự phía Tây - Tây Nam thành phố Pleiku và Tây Nam căn cứ Quân đoàn 2 của địch. Ngoài việc tăng cường hệ thống phòng thủ trong khu vực căn cứ, chúng còn xây dựng vành đai bảo vệ vòng ngoài bao gồm những khu ấp chiến lược, các cụm cứ điểm trong đó có Thanh An, Bàu Cạn (thuộc huyện 5).

Cùng với việc tăng nhanh cả về số lượng quân Mỹ và trang thiết bị, chúng ra sức bắt lính, củng cố quân ngụy, phát triển mạnh lực lượng đặc biệt, lập thêm đồn bốt dọc các tuyến giao thông chiến lược, biên giới, các khu vực đông dân cư và trong từng ấp chiến lược để ngăn chặn hoạt động của ta và thực hiện bình định, nắm dân. Để tổ chức hiệu quả các hoạt động càn quét, lấn chiếm, bình định nông thôn, Mỹ - ngụy đẩy mạnh việc củng cố ngụy quyền ở các địa phương. Kết hợp chiến thuật cắm đồn chốt giữ với đẩy mạnh hành quân càn quét, địch đã tập trung đánhphá ta tất cả về quân sự, chính trị và kinh tế.

Trong bối cảnh đó, đầu tháng 10/1965, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên (B3) quyết định mở Chiến dịch Plei Me và được Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh thông qua. Chỉ huy chiến dịch là Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên Chu Huy Mân và Chính ủy Nam Hà . Phạm vi chiến dịch được xác định không chỉ là trung tâm huấn luyện biệt kích Plei Me, mà diễn ra trên địa bàn rộng lớn thuộc khu 5 trong tứ giác Plei Me - Bàu Cạn - Đức Cơ - Ia Đrăng trong không gian khoảng 1.200km2. Khu vực quyết chiến với quân Mỹ được Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên xác định là thung lũng Ia Đrăng dưới chân núi Chư Prông.

Nhiệm vụ của chiến dịch được đề ra là tiêu diệt một bộ phận chủ lực ngụy, nếu Mỹ tham chiến thì tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ để củng cố, mở rộng vùng giải phóng, xây dựng căn cứ địa. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm: Trung đoàn 33 vây đồn Plei Me; Trung đoàn 320 được bố trí mai phục ven đường 21; Trung đoàn 66 được bố trí tại thung lũng Ia Đrăng. Đây là lực lượng chủ yếu tiêu diệt quân Mỹ. Các Tiểu đoàn pháo binh 200 và 952 cùng lực lượng vũ trang tỉnh Gia Lai tổ chức đánh địch.

2. Diễn biến chiến dịch

Từ những ngày đầu tháng 10/1965, Bộ Tư lệnh Mặt trận đã tập trung theo dõi tình hình địch, lên phương án tác chiến và tổ chức lực lượng, điều khiển các đơn vị hành quân vào khu vực tập kết chiến dịch. Với lối đánh vận động phục kích, vận động tấn công, tập kích, pháo kích, dùng mìn để tiêu diệt, tiêu hao quân địch. Lấy việc vây điểm là chủ yếu, trong vây điểm thực hiện đánh mẻ, tiêu hao quân địch, buộc chúng phải viện nhanh. Trong diệt viện thì diệt cả viện đường bộ, viện đường không, đánh cả viện đi, viện về. Kết hợp mọi cách đánh của ba thứ quân đánh tiêu diệt nhỏ với tiêu diệt vừa và lớn, thực hiện nghi binh rộng rãi, tạo thành thế liên tục tiến công; đánh thắng trận đầu, đánh thắng các trận tiếp theo, trận trước thắng lợi tạo điều kiện và thời cơ cho trận sau giành thắng lợi cao hơn.

Đêm 19/10/1965, chiến dịch Plei Me mở màn, các đơn vị có nhiệm vụ nghi binh lừa địch nổ súng uy hiếp cứ điểm. Đúng 19 giờ 30 phút, Tiểu đoàn pháo binh 200 pháo kích vào căn cứ Đức Cơ; một đại đội của Tiểu đoàn 952 nổ súng bắn vào sân bay dã chiến Tân Lạc, địch huy động máy bay thả pháo sáng bắn phá xung quanh hai căn cứ này. Cùng thời điểm, Đại đội 2 của Tiểu đoàn 15 bộ đội tỉnh tập kích đánh rã trung đội dân vệ đóng giữ ở nhà thờ cũ Mỹ Thạch, thu 32 súng; địch phải dùng máy bay C47 đến bắn phá, chi viện. Đến 22 giờ 55 phút, các chiến sĩ Đại đội 3, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 33 nổ súng tấn công Chư Ho, tiền đồn bảo vệ trại biệt kích Plei Me. 400 tên biệt kích ngụy và 12 cố vấn Mỹ bị giam hãm trong chiến hào bao vây của ta.

Sau 5 ngày dội bom đánh phá nhưng không phá vỡ được vòng vây của bộ đội ta, 7 giờ sáng, ngày 23/10, Biệt khu 24 phải huy động lực lượng ứng cứu, chi viện, gồm: Chiến đoàn 3 thiết giáp; Tiểu đoàn biệt động quân số 21, 22; Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 42 và 12 máy bay quần đảo trên không dọc đường 21, đoạn từ Phú Mỹ đến Plei Me.

16 giờ 30 phút, ngày 23/10, lực lượng giải vây của địch lọt vào trận địa phục kích của Trung đoàn 320. Đến 2 giờ sáng ngày 24/10, Trung đoàn 320 đã hoàn toàn làm chủ trận địa, tiêu diệt Chiến đoàn 3 thiết giáp, 01 tiểu đoàn và 01 đại đội bộ binh địch. Phối hợp với bộ đội chủ lực, lực lượng địa phương đã đánh tiêu diệt hàng trăm tên địch, bảo vệ an toàn hậu phương của mặt trận.

Nhiệm vụ vây đồn Plei Me đã hoàn thành, ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân cơ động của ngụy, chiếm đồn Chư Ho, bao vây đồn Plei Me, đánh bại Chiến đoàn 3 thiết giáp ngụy đến ứng cứu đã buộc Sư đoàn kỵ binh không vận 1 Mỹ phải đưa hai tiểu đoàn của Lữ đoàn 1 vào tham chiến. Tiếp đó, Mỹ đưa Lữ đoàn kỵ binh không vận 3 vào nhằm ứng cứu quân ngụy và tìm diệt chủ lực ta. Trước tình hình đó, ngày 26/10 ta quyết định chuyển toàn bộ Trung đoàn 33 và 320 về Đông Nam sông Đrăng (Ia Đrăng) sẵn sàng chờ đánh quân Mỹ đổ bộ và các đợt phản kích tiếp theo của địch. Những ngày cuối tháng 10, đầu tháng 11/1965, chiến trường Plei Me hết sức sôi động, khẩn trương. Hoạt động cơ bản của ta là di chuyển quân để bố trí theo kế hoạch mới.

Ngày 10/11, tướng Kina, Tư lệnh Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 gấp rút điều Lữ đoàn 3 kỵ binh từ căn cứ An Khê đổ quân xuống Bàu Cạn và Plei Ngo. Ngay lúc địch đang triển khai thế trận, đêm 11/11, Tiểu đoàn đặc công 952 có du kích xã E5 (Ia Phìn) và các chiến sĩ đội vũ trang biệt động thị xã Pleiku dẫn đường bất ngờ tập kích vào Sở chỉ huy hành quân và sân bay dã chiến Bàu Cạn.

Trước sức tiến công và vây ép của quân ta, quân Mỹ liên tiếp tiến hành các đợt hoạt động thăm dò, chúng sử dụng trực thăng đổ quân, tập kích vào hậu phương chiến dịch và một số khu vực trận địa của ta, nhưng đều bị ta phát hiện kịp thời, đánh ngăn chặn và đẩy lùi. Với chiến thuật “cóc nhảy”, quân Mỹ đưa Lữ đoàn kỵ binh không vận 3 đổ bộ xuống khu vực Chư Prông, hòng bất ngờ đánh vào phía sau đội hình quân chủ lực ta. Dựa vào trận địa đã chuẩn bị sẵn, bộ đội ta đánh chặn quyết liệt, tiêu diệt hai đại đội quân Mỹ, dồn số còn lại xuống thung lũng Ia Đrăng để co cụm phòng ngự.

Ta triển khai lực lượng vận động tiếp cận liên tục đánh địch suốt đêm 16/11/1965. Trước lối đánh gần táo bạo, dũng mãnh của quân ta theo tinh thần “bám thắt lưng Mỹ mà đánh”, đội hình địch ở thung lũng Ia Đrăng bị rối loạn, không dám cụm lại chờ máy bay lên thẳng đến cứu, địch lợi dụng đêm tối chạy bộ hòng thoát khỏi Ia Drăng. Ngày 17/11/1965, bộ đội ta đã diệt gọn Tiểu đoàn 1 Mỹ, đây được coi là dấu mốc của trận then chốt chiến dịch. Ngày 18/11, hai chiến đoàn dù ngụy số 1 và 2, lực lượng do Oétmolen ra lệnh đến ứng cứu, giải vây cho quân Mỹ cũng rơi vào thế trận của Trung đoàn 320. Ngày 19/11, toàn bộ quân địch rút khỏi thung lũng Ia Đrăng, nhưng chiến dịch vẫn còn tiếp diễn đến ngày 26/11 với sự tham chiến của quân ngụy.

Sau hơn một tháng chiến đấu, bộ đội chủ lực ta với sự hỗ trợ của lực lượng địa phương, dân quân du kích đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.700 tên Mỹ, 1.270 tên ngụy, tiêu diệt Tiểu đoàn 1, đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 2 Sư đoàn kỵ binh bay số 1 - “niềm hy vọng lớn nhất của lục quân Mỹ”, bắn rơi 59 máy bay lên thẳng, phá hủy 89 xe quân sự và nhiều pháo, súng các loại.

Chiến thắng Plei Me đã chứng minh rằng quân ta có thể tiêu diệt tiểu đoàn lính Mỹ; phá chiến thuật cơ động bằng máy bay lên thẳng; đánh bại những đơn vị tinh nhuệ, trang bị hiện đại nhất của Mỹ trong chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam. Chiến thắng Plei Me càng thôi thúc khí phách anh hùng, củng cố thêm niềm tin vào khả năng đánh Mỹ và quyết tâm thắng Mỹ của đồng bào các dân tộc tỉnh Gia Lai. Đặc biệt là từ thắng lợi của những cuộc đấu tranh chính trị trực diện với kẻ thù hỗ trợ cho Plei Me đã mở ra khả năng vận dụng đấu tranh ba mũi giáp công với quân Mỹ của lực lượng địa phương.

II- Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của chiến thắng Plei Me

1. Nguyên nhân thắng lợi

Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự chỉ đạo sâu sát của Liên khu ủy Khu V; cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và lực lượng địa phương có lòng dũng cảm, sự sáng tạo và ý chí quyết chiến, quyết thắng.

Quân đội ta đã vận dụng cách đánh sáng tạo, linh hoạt, nắm chắc tình hình, dự kiến tình huống cụ thể, tỉ mỉ và sát thực tế, chủ động tổ chức trong tác chiến. Kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện quân sự và huấn luyện hậu cần - kỹ thuật; nắm vững và vận dụng thành thạo nguyên tắc nghệ thuật quân sự, đáp ứng yêu cầu cách đánh truyền thống “lấy ít đánh nhiều, lấy yếu đánh mạnh, lấy nhỏ thắng lớn, lấy chất lượng thắng số lượng, lấy trang bị vũ khí thô sơ để thắng quân địch có trang bị hiện đại”.

2. Ý nghĩa lịch sử

- Thắng lợi của chiến dịch Plei Me năm 1965 có ý nghĩa chiến lược quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới về nghệ thuật chiến đấu của bộ đội ta trong cuộc đấu trí, đấu lực đầu tiên với đội kỵ binh chiến đấu nhà nghề Mỹ trên chiến trường Tây Nguyên.

- Chiến thắng Plei Me đã cổ vũ sĩ khí và lòng tin đánh thắng Mỹ của quân dân, Gia Lai, Tây Nguyên nói riêng, quân dân cả nước nói chung, góp phần thúc đẩy nhanh hơn sự suy sụp về ý chí chiến đấu của quân đội Mỹ trên chiến trường miền Nam; tác động trực tiếp tới công luận tại nước Mỹ. Đánh dấu sự khởi đầu “hội chứng Việt Nam”, gây ra sự ám ảnh dai dẳng, nặng nề đối với quân đội và nhân dân Mỹ trong nhiều thập kỷ.

- Bộ đội chủ lực Tây Nguyên đã viết tiếp truyền thống vẻ vang “đánh thắng ngay từ trận đầu” của quân đội ta, tạo thế giành thắng lợi cho các chiến dịch tiếp theo đến chiến dịch tiến công Buôn Ma Thuột, chiến dịch mở đầu đại thắng mùa Xuân năm 1975.

III- Phát huy truyền thống cách mạng của thắng lợi chiến dịch Plei Me, Đảng bộ, quân và dân huyện Chư Prông vượt qua khó khăn, thử thách xây dựng huyện Chư Prông ngày càng phát triển đi lên

Để tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng huyện Chư Prông phát triển vững mạnh toàn diện, Đảng bộ, quân và dân các dân tộc huyện Chư Prông tập trung thực hiện tốt những nhiệm vụ trọng tâm sau:

1. Tập trung đầu tư xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện. Xây dựng lộ trình và phân kỳ đầu tư công hợp lý từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước và nguồn vốn xã hội hoá để thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng nông thôn mới.

2. Rà soát và bổ sung quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội, quy hoạch chi tiết các tiểu vùng phù hợp trên cơ sở khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất đai, lao động trên địa bàn gắn với bố trí, sắp xếp dân cư nhất là các khu dân cư mới tại vành đai biên giới và các dự án chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cây cao su trên địa bàn huyện.

3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh phát triển giáo dục và đào tạo, y tế và các lĩnh vực xã hội khác, chú trọng vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội.

4. Chú trọng đầu tư xây dựng các tiềm lực khu vực phòng thủ huyện. Bảo đảm vững chắc an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giữ vững chủ quyền an ninh biên giới.

5. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng tin học để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

6. Đẩy mạnh công tác xây dựng, củng cố hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở, trọng tâm là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở./.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn