Kỷ niệm 60 năm đường Hồ Chí Minh trên biển - Kỷ niệm về những anh hùng
Trong những ngày cả nước kỷ niệm 60 năm Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển (23/10/1961 - 23/10/2021), Anh hùng Lực lượng vũ trang Hồ Điệp Thanh - nguyên thuyền trưởng hạm đội "Không Số", từng tham gia nhiều chuyến vận chuyển vũ khí và trang thiết bị đến cảng Vũng Rô... - đã kể lại câu chuyện về những ngày tháng gian khổ nhưng anh hùng ấy.

Trong những ngày cả nước kỷ niệm 60 năm Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển (23/10/1961 - 23/10/2021), Anh hùng Lực lượng vũ trang Hồ Điệp Thanh - nguyên thuyền trưởng hạm đội "Không Số", từng tham gia nhiều chuyến vận chuyển vũ khí và trang thiết bị đến cảng Vũng Rô... - đã kể lại câu chuyện về những ngày tháng gian khổ nhưng anh hùng ấy.
Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, Trung tá Hồ Đắc Thanh, sinh năm 1934, hiện đang cư trú tại phường 3, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Đã về hưu và trở về quê hương, dù gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, ông vẫn luôn giữ vững tinh thần "Người lính của Bác Hồ - Chiến sĩ Hải quân". Ông là một trong những nhân chứng sống, truyền lại lịch sử vẻ vang của Hải quân Nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cho thế hệ mai sau.
Ông kể lại: Tháng 2 năm 1965, tàu số 143 chở tiếp tế đến Vũng Rô (Phú Yên) bị địch phát hiện. Quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn tập trung một lượng lớn máy bay và tàu chiến để phát động cuộc tấn công dữ dội, khiến chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn trong việc vận chuyển tiếp tế ra chiến trường bằng đường biển.
Sau một thời gian trinh sát và thu thập thông tin tình báo trên biển, Bộ Tư lệnh Hải quân quyết định: "Đối với chiến trường phía Nam, chúng ta sẽ sử dụng các tàu ngụy trang thành tàu đánh cá, tàu chở dầu và tàu vận tải nước ngoài để dàn trải dọc theo tuyến đường đến Hồng Kông (Trung Quốc), Indonesia và Malaysia, rồi chuyển chúng đến phía Bắc."
Đối với chiến trường Nam Trung Bộ, kế hoạch là tìm một hòn đảo không người ở thuộc quần đảo Trường Sa để sử dụng làm kho chứa, sau đó dần dần vận chuyển tiếp tế lên bờ bằng thuyền. Tại Khu vực V, do địa hình ven biển phức tạp, thiếu kênh đào và đường bờ biển chủ yếu là đá và cát, chúng tôi đã chọn một bãi biển bằng phẳng làm điểm đổ bộ để khai thác điểm yếu và tạo yếu tố bất ngờ.
Tàu số 41 được chọn để thí điểm phương thức vận chuyển này. Đây là một quyết định táo bạo bởi vì, từ thời xa xưa, ngư dân ở các khu vực ven biển miền trung và bắc trung bộ chỉ sử dụng một loại tàu thuyền duy nhất: bè làm bằng các thanh tre ghép lại với nhau, để tránh bị sóng nhấn chìm khi ra khơi hoặc trở về bờ. Giờ đây, chúng ta đang sử dụng những con tàu sắt 100 tấn để dỡ hàng ở vùng biển ven bờ. Điều này vốn đã khó khăn trong điều kiện thời tiết bình thường, nhưng càng trở nên khó khăn và nguy hiểm hơn khi có gió mạnh và sóng lớn.
Bãi biển bằng phẳng là khu vực trống trải, trực tiếp chịu tác động của sóng đánh vào bờ (được ngư dân gọi là sóng cuộn), sau đó sóng này kéo lê tạo thành các gờ cát ở mép nước. Điều này gây nguy hiểm cho chân vịt tàu thuyền.
Để làm quen với địa hình gần giống như nơi tàu vào thả hàng, lực lượng ta đã tập luyện ở bãi ngang cửa Bà Lạt, tỉnh Thái Bình gần 1 tháng. Cùng tập với tàu có một tổ đặc công nước Đoàn 126. Sau khi tàu thả hàng, đánh dấu bằng những phao lưới đánh cá xong quay ra, tổ đặc công cùng với địa phương tổ chức lặn mò vớt hàng lên.
Vào một đêm tháng 11.1966, Tàu 41 xuất phát tại cảng Bính Động, Hải Phòng. Giờ phút chia tay thật cảm động, một thủ trưởng ôm tôi động viên: "Tháng tới, Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc sẽ họp tại Hà Nội. Trong chuyến đi này, chỉ cần cậu báo tin tàu đến nơi trả hàng xong an toàn là ngoài này đại hội sẽ tuyên dương anh hùng ngay”. Ôi, chuyến đi có tầm quan trọng đến thế ư!
Chuyến đi vô cùng gian khổ ngay từ ngày đầu. Hết đợt gió mùa này đến đợt gió mùa khác, rồi lại gặp cơn bão Biển Đông. Suốt ba ngày không nấu cơm được bởi sóng chao đảo lắc lư, đành phải ăn lương khô và uống nước lã. Thủy thủ tàu, đặc công nước đi theo tàu say sóng,
Cán bộ thuyền và nhân viên Hàng hải tác nghiệp tìm hướng đi tránh xa tâm bão, đồng thời để tránh sự phát hiện của ra đa của địch trên đảo Lý Sơn, sĩ quan và thủy thủ đã quyết định táo bạo là cho tàu đi trong Cù Lao Ré lẫn vào tuyến đi của tàu chở hàng Bắc Nam.
Vật lộn với sóng to, gió lớn, 23 giờ ngày 27.1.1966, tàu vào đúng bãi ngang chỉ định. Tàu dừng lại cách bờ 1 hải lý, Chính trị viên Đặng Văn Thanh dùng đèn pin phát ký hiệu nhận nhau với bờ nhưng không thấy trả lời. Xác định tàu đã vào đúng bến nhưng chưa bắt được tín hiệu nhận nhau, tàu 41 vừa thả hàng vừa cho người bơi vào bờ để liên lạc với bến.
Gần bờ, sóng càng lớn, tàu bị sóng từ từ nâng lên và đột nhiên đập xuống. Phó thuyền trưởng Hồng Lỳ chỉ huy anh em thả hàng ở hầm bị một cơn sóng đánh văng người rơi xuống hầm hàng 2. Tuy bị đau nhưng anh vẫn chịu đựng, bám sát, đôn đốc anh em thả hàng. 2 giờ sáng thì nhận được tín hiệu của bờ, anh em như được tăng thêm sức mạnh, thả hàng càng nhanh. Ngoài khơi xuất hiện hai ánh đèn tàu. Anh Hồng Lỳ báo cáo: "Hầm hàng số 2 còn khoảng 1/3”.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Tôi cho anh em dừng thả hàng, đóng hầm hàng chuẩn bị rời khu thả hàng thì một đợt sóng to nâng tàu lên và đập xuống, con tàu rung lên và khựng lại. Đồng chí Nhạn - Máy trưởng - báo cáo: "Chân vịt tàu bị sóng dập cong không cơ động được. Tình thế đã khẩn cấp lắm rồi”. Để bảo đảm an toàn bí mật nơi thả hàng và tránh cho tàu ta rơi vào tay địch, chúng tôi thực hiện phương án cho người lên bờ và phá hủy tàu. Tôi và đồng chí Nhạn ở lại tàu làm nhiệm vụ điểm hỏa bộc phá và rời tàu cuối cùng.
Bộc phá đã chuẩn bị xong. Trời sáng dần, nhìn rõ hai tàu địch. Tôi hủy tài liệu chuyến đi, mặc áo phao buộc lá cờ Tổ quốc vào cổ, dắt khẩu súng ngắn vào hông và cố định tay lái ở 0°. Tăng hết tốc độ cho tàu chạy hướng ra khơi với ý định nếu tàu địch tiếp cận bắt sống tàu ta thì khối bộc phá 1 tấn ít ra cũng làm chúng thiệt hại.
Tôi và kỹ sư trưởng Nhan rời tàu và bơi vào bờ. Khoảng 30 phút sau, giữa tiếng nổ của thuốc nổ phá hủy con tàu và tiếng pháo kích không ngừng từ tàu địch, một con sóng lớn hất tôi vào bờ, cách mép nước khoảng 5 mét. Đó là 4 giờ 30 sáng ngày 28 tháng 11 năm 1966, cùng ngày hai năm trước đó, ngày 28 tháng 11 năm 1960, khi tàu tôi cập cảng Vũng Rô, Phú Yên.
Khi tỉnh dậy, tôi tập hợp thủy thủ đoàn lại. Trung úy Dương Văn Lộc - Phó thuyền trưởng và Thượng sĩ Trần Văn Nho - Thuyền trưởng - đã thiệt mạng trên bãi biển.
Ngay cả đến hôm nay, tôi vẫn nhớ như in lời khen ngợi của ông Mau, một người đàn ông 70 tuổi đã dành cả đời làm việc trên biển ở vùng biển ven biển này: "Vào thời tổ tiên tôi, tôi chưa từng thấy ai đưa một con tàu sắt vào vùng biển ven biển trong thời tiết bão tố và mưa gió như thế này."



