KỶ NIỆM CỦA MỘT NGÀY TRONG QUÂN NGŨ
Năm 1972, cả đợt quân Yên Bái chúng tôi hồi ấy được biên chế về Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 246, Quân khu Việt Bắc. Ba tháng huấn luyện tân binh chúng tôi đóng quân tại xóm Bầu, xã Văn Yên, huyện Đại Từ, Thái Nguyên. Sau đó tiểu đoàn 5 đi B, tôi và mấy đồng chí nữa được điều động lên đại đội trinh sát của Trung đoàn đóng ở thị trấn Đại Từ. Tuy không còn đồng đội ở Văn Yên nhưng tôi rất nhớ xóm Bầu, nhớ gia đình bác Giáp chủ nhà. Ngày chủ nhật được nghỉ, tôi xin phép tiểu đội trưởng về thăm Văn Yên.
- Vừa ra khỏi cổng Trung đoàn tôi đã đi như chạy, tất cả đi lẫn về gần 40 cây số nên phải thật nhanh mới kịp. Đi được chừng 5 cây, tôi thấy một cô gái đang loay hoay lắp chiếc xích xe đạp bị tuột. Tôi chủ động đến lắp giúp. Vì là xích hộp nên phải mất hồi lâu tôi mới lắp được. Mổ hôi túa ra đầy mình, hai bàn tay đen nhẻm toàn dầu mỡ. Cô gái cảm ơn và rút trong túi sách tay ra chiếc khăn mùi xoa trắng tinh để tôi lau tay. Tôi mỉm cười, lắc đầu, nói vui: Khỏi cần, tay bộ đội chúng tôi mà, đâu nỡ lau bằng cái khăn trắng thế kia, cứ vài chiếc lá cây là xong.
Rồi thì với mấy nắm lá cây hái ven đuờng, và cả chùi xuống đất, tay tôi cũng tạm gọi là sạch. Cô gái hỏi tôi:
- Bây giờ anh về đâu?
Tôi kể cho cô về chuyến đi của mình. Cô gái nói với tôi giọng rất trong và dịu:
- Em về Kí Phú, chỉ cách Văn Yên mấy cây, tiện đường anh đi cùng xe đạp với em luôn cho đỡ mệt.
Thú thực là nghe cô nói vậy tôi mừng lắm, đi nhờ được xe đạp lúc này còn gì bằng, lại được đi với một cô gái xinh đẹp thì chả có gì so sánh nổi. Nhưng không biết cô mời thật hay chỉ là xã giao nên tôi làm vẻ do dự:
- Như thế có phiền cho bạn không?
Cô gái nhìn thẳng vào tôi, đầu lắc một cách dứt khoát, giọng thẳng thắn:
- Phiền gì cơ? Thôi, đi đi anh. Anh đèo em nhé.
Rồi cô ấn ghi đông xe vào tay tôi. Tôi cũng chỉ đợi có thế, rồi lấy hết sức bình tĩnh để vững tay lái. Đường Đại Từ đi Kí Phú có nhiều dốc, cứ đến mỗi cái chân dốc là cô gái lại chủ động nhảy xuống đi bộ. Dọc đường đi, cô gái hỏi chuyện là chính. Mọi ngày tôi vẫn được đồng đội cho là vào loại “mồm mép” nhưng không hiểu sao hôm ấy cứ ấp a ấp úng mãi mới nói được là quê tôi ở tận Yên Bái, đi bộ đội đã được 4 tháng, tôi rất nhớ xóm Bầu, nhớ nhà bác Giáp. Còn qua lời kể của cô, tôi biết cô đang là sinh viên Khoa Sinh năm thứ hai, Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc, nhà cô ở gần ngay cửa hàng mua bán xã Kí Phú. Chủ nhật nào không bận cô đều về thăm gia đình.
Lúc đến đường rẽ về Văn Yên, tôi dừng lại trả xe và cảm ơn. Cô gái nói luôn với tôi như không phải suy nghĩ đắn đo gì, hoặc là đã nghĩ kĩ từ trước rồi:
- Anh cứ đi cùng em về Kí Phú, rồi từ đó tắt sang Văn Yên, gần được nửa đường đấy anh ạ. Thôi, lên xe đi tiếp đi anh.
Tôi chẳng còn biết làm gì hơn là nghe lời cô gái. Đường Kí Phú, hai bên là những ruộng lúa. Lúc đó là tháng hai âm, lúa chiêm xuân đã vào thì “con gái”. Trên các đám ruộng bà con xã viên đang làm cỏ lúa rất đông. Những tiếng hỏi, chào cô gái từ dưới ruộng í ới vọng lên. Mấy cô gái trẻ, chắc là bạn thân, còn một tay chống sườn, một tay chỉ về phía chúng tôi mà nói:
- Này, đưa về giới thiệu đấy à, bộ đội à, đẹp trai nhẩy, quê ở đâu ta đấy? Trưa bọn tao đến xem mặt đấy nhá.
Tôi không biết họ hiểu lầm hay là cố tình trêu đùa nhưng cũng thấy đỏ bừng mặt, không dám nhìn xuống dưới ruộng. Cô gái thì vẫn tỉnh bơ, lại còn quay lại mà nói:
- Ừ đấy, trông có được không? Trưa có gì “cống nạp” thì mang sang đấy.
Cứ thế, dọc đường về đến nhà, chúng tôi bị đùa như thế tới mấy lần. Lúc về đến nhà, bố mẹ cô không biết có nghĩ tôi là bạn trai của con gái họ không mà đón tiếp tôi rất vồn vã, niềm nở, thân tình. Bác trai bảo với bác gái đi bắt gà làm cơm. Thấy cô gái chẳng nói gì, tôi đành phải thưa với hai bác rằng tôi chỉ là anh bộ đội đi nhờ xe và bây giờ tôi xin phép xuống Văn Yên.
Hai bác có vẻ chững lại đôi chút, rồi lại thân tình nói- với tôi:
- Cũng gần trưa rồi, cháu cứ ở lại ăn cơm với gia đình bác rồi hãy sang bên đó, còn cả buổi chiều cơ mà.
Tôi biết là bác đã nói thật và lòng tôi cũng muốn như thế lắm. Nhưng ở lại thì cũng thấy e ngại thế nào ấy nên tôi nói dối là đã nhắn tin cho bác Giáp rồi, chắc là nhà bác Giáp cũng đã làm cơm đợi.
Thấy tôi thưa vậy, hai bác cũng không cố giữ nữa nhưng lại bảo tôi lấy xe đạp mà đi cho đỡ mệt, chiều quay lại nhà bác đón em nó cùng đi. Thú thực tôi hoàn toàn không ngờ lại có tình huống này. Chỉ được đi nhờ đến đây, được đón tiếp vui vẻ thế này là đã thấy hạnh phúc lắm rồi, đâu dám mong gì hơn. Tôi biết chiếc xe đạp Phượng Hoàng cánh chả lúc bấy giờ rất có giá, với một gia đình ở nông thôn thì đó còn là một tài sản lớn. Vả lại cả gia đình đã biết gì về tôi đâu, ngoài lời tôi tự giới thiệu là một anh bộ đội. Nghĩ thế nên tôi xin cảm ơn lòng tốt của các bác, còn từ đây sang Văn Yên tôi có thể đi bộ được, nếu có thể thì chiều tôi quay lại xin đi nhờ xe trở về đơn vị. Nhưng cả gia đình bác cứ một mực bắt tôi lấy xe đi. Cô gái lại dắt xe ra tận cổng cho tôi. Lúc đó tự nhiên tôi đã rơi nước mắt, không kìm nén nổi sự cảm động của mình. Tôi run run rút trong túi áo ngực tấm thẻ đoàn viên thanh niên và nói với bác trai:
- Con...con chỉ có tấm thẻ đoàn này thôi, có tên tuổi và quê quán của con, xin gửi bác để làm tin. Con... con... xin bác tha lỗi.
Tiếng con từ lòng tôi cất lên một cách tự nhiên. Bác trai đưa tay cầm tấm ảnh nhìn qua và nói với tôi:
- Bác đọc cho biết cái tên của con thôi, con cứ cầm lấy đi. Lòng bác đã tin con rồi mà, cần gì phải có cái làm tin. Con trai bác cũng đi bộ đội như con. Thôi con đi đi, rồi chiều quay lại nhà bác. Giọng bác bỗng trở nên nghèn nghẹn, chắc là bác cũng đang xúc động lắm. Tôi cảm ơn bác lần nữa rồi sang Văn Yên.
Bữa cơm trưa đó tôi ăn tại nhà bác Giáp. Một bữa cơm quê, rau muống luộc chấm nước xì dầu, cà pháo nén giòn, có thêm một đĩa trứng tráng. Đang ăn thì chị Hoàn hàng xóm mang sang cho đĩa cua đồng rang giòn. Quê mùa vậy thôi nhưng sao mà ngon cho đến bây giờ.
Nhìn dãy phản gỗ kê cho chúng tôi nằm trước đây chiếm hết cả gian nhà của bác, cả những chiếc giá để ba lô, giá để giày, dép, giá bát đũa, dây phơi khăn mặt vẫn con nguyên, đến cả những tấm giấy nhỏ ghi tên chúng tôi dán trên đó cũng vẫn còn nguyên lành, tôi nói với bác:
- Sao bác không thu dọn dãy phản đi cho gọn, để cháu đỡ một tay nhé.
Bác cười nói:
- Tháng sau lại có đợt tân binh đến, xã đã báo rồi, Cứ để nguyên như thế cho các chú ấy đến có cái dùng ngay - Rồi bác chép miệng - lớp trước đi, lớp sau đến, không biết đến bao giờ mới hết người phải ra trận.
Bác mở tủ lấy ra cho tôi xem cả một xấp dày các mảnh giấy nhỏ ghi họ tên những người lính đã từng ở nhà bác được dán trên giá để ba lô. Bác bảo:
- Khi nào có quân mới tới bác mới gỡ những mảnh giấy ghi tên các chú đã đi, không nỡ vất, bác cứ thu lại cất tất cả vào tủ.
Tôi cầm xấp giấy, lần luợt đọc từng cái tên ghi trên đó, nhiều mảnh giấy đã bạc màu chữ. Những cái tên ghi trên giấy này, mỗi cái tên là một cuộc đời trai trẻ, nay đang ở những đâu? Ai còn? Ai đã mất? Một ngày kia miếng giấy ghi họ tên tôi cũng sẽ được xếp vào đây, trở thành kỷ vật với người nông dân ở cái xóm Bầu, quê núi Đại Từ này.
Cơm nước xong, tôi đang định đi chào hỏi mấy nhà quen cũ ở xóm thì đã thấy các bác, các chị kéo hết đến nhà bác Giáp thăm tôi, có người còn mang theo cả cào cỏ để đi làm đổng luôn. Trò chuyện, hỏi thăm, cười đùa rôm rả như với một người con trai của xóm đi xa nay trở về nhà. Chỉ có chưa đầy 3 tháng huấn luyện ở Văn Yên thôi mà bà con đã coi chúng tôi là nhũng đứa con, đứa cháu. Một tình cảm như thế bây giờ thật khó kiếm tìm.
Hai giờ chiều tôi xin phép bác Giáp để trở về đơn vị. Bác gái cho tôi cả một túi củ từ đã luộc, bảo tôi cầm về làm quà cho anh em, bác trai cho tôi 5 đồng nhưng tôi chỉ dám nhận túi củ từ, còn tiền tôi kiên quyết không cầm vì nhà bác nghèo lắm.
Khi tôi sang đến Kí Phú, cả nhà cô gái đang đợi tôi về. Bác gái mở lồng bàn, cả một mâm những bát chè đỗ đen đã múc sẵn. Bác giục:
- Chè nguội rồi đây, thôi ông ra ăn để các con nó ăn, rồi còn về kẻo muộn.
Chỉ một câu nói bình dị ấy thôi mà sao nghe thấy nặng tình đến thế. Lần nấy thì tôi không thể chối từ. Trước khi đi, bác gái đưa cho cô gái một gói chè và bảo:
Con cho vào túi, về đến đon vị đưa cho anh nó, để chúng nó pha uống. Chè xuân mẹ sao suốt đấy.
Rồi hai bác tiễn tôi ra đến tận cổng, các bác không quên dặn khi nào được nghỉ thì lại xuống; nhà bác chơi. Khi chúng tôi lên xe rồi, hai bác mới trở lại nhà. Chuyến trở về tôi đã có phần mạnh bạo hơn, tôi đã dám hỏi cô gái:
Mấy cô trêu chúng mình hồi sáng trưa nay có sang nhà em chơi không?
Cô gái vui vẻ:
Chúng nó sang cả, cho em bao nhiêu là chanh với bồ kết, lại còn hỏi em là giấu anh ở đâu rồi.
Vậy em nói sao? Có dám nhận như lúc sáng không?
Im lặng một lát, rồi cô gái nói nhỏ nhung cũng rất rành rọt:
Sợ gì mà em không dám nhận.
Không biết đó là một câu nói thật hay đùa, hay chỉ là một sự động viên những người lính sắp ra trận. Dù không là thật, dù chỉ là động viên, dù chỉ là đùa thì nghe nó cũng sung sướng làm sao. Khi chia tay ở lối rẽ vào cổng Trung đoàn, cô gái hẹn chủ nhật cô sẽ xuống đơn vị chơi và nếu tôi được nghỉ thì hai đứa lại cùng về Kí Phú.
Những gì đã xảy ra hôm đó rất có thể sẽ đem lại một kết cục tốt đẹp. Nhưng rồi tất cả chỉ dừng lại ở đó. Ba ngày sau chúng tôi nhận lệnh vào chiến trường. Có thể chủ nhật ấy cô gái đã xuống đơn vị tôi thật, cũng có thể chỉ là một cái hẹn vui lúc chia tay, nhưng câu nói của cô: “Chủ nhật nhé, anh nhớ đợi em đấy, lúc đó em sẽ nói cho anh biết tên của em”, cứ văng vẳng bên tai tôi. Tôi đã rất muốn viết một bức thư xin lỗi vì đã không thể đợi cô đến ngày chủ nhật nhưng không thể viết được vì không biết tên và địa chỉ. Năm 1977 tôi ra quân và thi đỗ vào Trường đại học Sư phạm Việt Bắc. Tôi đến Khóa Sinh và hỏi thăm về cô sinh viên người Kí Phú, Đại Từ, qua dò hỏi, tôi biết ra trường cô được phân công lên dạy học ở Lạng Sơn. Tôi lại nhờ những bạn ở Lạng Sơn tìm hiểu về cô, biết cô gái đó đã có một gia đình riêng hạnh phúc. Chồng cô cũng là bộ đội. Nhũng gì đã diễn ra hôm ấy và sự bặt tin tức từ đó tới nay chưa đủ cớ để tôi lên Lạng Sơn thăm cô. Vả lại cô cũng đã có một gia đình hạnh phúc rồi. Tôi rất mừng cho cô. Nhưng phải nói thật, 32 năm qua, cuộc sống chung riêng có nhiều thay đổi, tôi cũng đã có thêm bao nhiêu kỷ niệm, có cả nhũng tình yêu đến rồi đi, có cả những mất mát, những niềm hạnh phúc. Những kỷ niệm của một ngày chủ nhật ấy, cái mất mát lần ấy cứ làm tôi khắc khoải khôn nguôi, đấy cũng là lí do chính để tôi khi rời tay súng đã thi vào sư phạm và đã chọn Trường đại học Sư phạm Việt Bắc để học.



