Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Kỷ niệm Cứu quốc quân

ứu quốc quân là một trong những đội vũ trang tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay. Ra đời sau cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn oanh liệt, trong những năm đen tối của nước nhà dưới ách thống trị thực dân tàn bạo của đế quốc Pháp, Nhật câu kết với bọn phong kiến phản động, Cứu quốc quân được Đảng lãnh đạo, được nhân dân che chở và nuôi dưỡng, đã tiến hành một cuộc đấu tranh vô cùng anh dũng và gian khổ để «duy trì tiếng súng Bắc Sơn», để xây dựng căn cứ địa cách mạng, tiến tới khởi nghĩa toàn

Lai Châu02/07/2026Quân đội nhân dân (xã sìn hồ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Ở Đông Dương, đi đôi với việc ban bố lệnh động viên, đế quốc Pháp thực hiện chính sách phát-xít, ra sức khủng bố cách mạng, thực hiện chính sách kinh tế thời chiến, vơ vét sức người, sức của để phục vụ chiến tranh của bọn phát-xít.

Trước tình thế biến chuyển, Đảng ta đã chỉ thị cho các cấp ủy và cán bộ, đảng viên đang hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp mau lẹ rút vào bí mật và giữ vững liên hệ với quần chúng, duy trì cơ sở và lực lượng ở thành thị, nhưng đồng thời chuyển trọng tâm công tác về nông thôn, biến nông thôn thành căn cứ địa rộng lớn của cách mạng.

Tháng 5 năm 1940, phát-xít Đức tiến công nước Pháp. Hơn một tháng sau, bọn tư bản phản động Pháp đầu hàng phát-xít Đức. Nhân cơ hội Pháp thua Đức, bọn phát-xít Nhật liền nhảy vào Đông Dương, chiếm lấy miếng mồi béo bở mà chúng thèm khát từ lâu. Ngày 22 tháng 9 năm 1940, phát-xít Nhật đem quân tiến đánh Lạng Sơn, đồng thời cho 6.000 quân đổ bộ lên Đồ Sơn (gần Hải Phòng). Sau vài trận thử sức ở vùng biên giới Việt —Trung, quân đội Pháp ươn hèn bỏ chạy. Tên toàn quyền Đờ-cu vội vã theo gương đồng bọn của chúng ở Pháp quỳ gối đầu hàng, dâng Đông Dương cho Nhật.

Từ đây, nhân dân Việt Nam bị hai kẻ thù là phát-xít Pháp và phát-xít Nhật thống trị. Đứng trước tình hình đó, nhân dân Việt Nam chỉ có một con đường là vùng lên đấu tranh để tự cứu mình.

Vùng Bắc Sơn — Võ Nhai, nơi có phong trào cách mạng từ lâu, cũng bị khủng bố. Một số đảng viên và quần chúng cách mạng bị bắt. Nhưng cơ sở Đảng và tổ chức cách mạng vẫn tồn tại và phát triển.

Khi quân Nhật đánh Lạng Sơn, quân Pháp rút chạy qua đường Bình Gia, Bắc Sơn, về Thái Nguyên. Hệ thống chính quyền của địch ở những vùng quân Pháp chạy qua đều lung lay dữ: tri châu Thất Khê bỏ trốn ; tri châu Na Sầm bị dân bắt; tên đại lý Pháp ở Bình Gia vứt cả súng đạn, bỏ đồn, chạy trốn. Khí thế cách mạng của quần chúng sôi sục. Nhiều người phục kích lính địch để cướp súng. Một số tổng đoàn, xã đoàn, lính dõng, lính khổ xanh, khố đỏ ngả theo cách mạng. Một số đảng viên cộng sản người Bắc Sơn — Võ Nhai bị giam trong nhà tù Lạng Sơn từ năm 1939 như các đồng chí Nông Thái Long, Vương Văn Nè (tức Thánh), Ruệ, Đường Văn Thức, Đường Văn Tư, v.v. vượt ngục, thoát về. Các đồng chí này cùng với các đồng chí ở địa phương họp vào sáng ngày 27 tháng 9 năm 1940 để nhận định tình hình, quyết định phát động khởi nghĩa vũ trang, thành lập Ban chỉ huy khởi nghĩa, chỉ định Ban phụ trách đánh đồn Mỏ Nhài.

Ngay tối hôm đó, hơn sáu trăm người gồm đủ các dân tộc Tày, Dao, Nùng, Kinh... thuộc các xã Hương Vũ, Bắc Sơn, Tam Hoa, Chiêu Vũ, Trấn Yên, cùng một số tổng đoàn, xã đoàn, lính dõng, lính khố đỏ ngả theo cách mạng, rầm rộ kéo tới nơi tập trung. Ngoài gậy gộc, giáo mác, quân khởi nghĩa có gần 30 súng trường.

Đúng 8 giờ tối, quân khởi nghĩa chia làm 3 mũi tiến công đồn Mỏ Nhài (tức châu lỵ Bắc Sơn). Cuộc khởi nghĩa bắt đầu. Sau hơn mười phút kịch chiến, tri châu và lính đồn chạy trốn, quân khởi nghĩa chiếm được châu lỵ.

Được tin chiến thắng, đồng bào các dân tộc nô nức kéo tới chân đồn Mỏ Nhài, họp thành một cuộc mít-tinh lớn. Đồng chí đại diện Ban chỉ huy khởi nghĩa báo cáo trước quần chúng kết quả trận đầu, tuyên bố xóa bỏ chính quyền đế quốc. Tức khắc, bao nhiêu sổ sách, giấy tờ, bằng, triện của địch được đem ra dốt ngay trước quần chúng. Ai nấy vô cùng sung sướng hò reo vang dậy.

Ngày 28 và 29 tháng 9, quân khởi nghĩa liên tiếp phục kích ở đèo Canh Tiếm và đèo Sập Rì, diệt hơn chục tên Pháp, trong đó có một quan ba, tước được một số súng.

Đứng trước cuộc khởi nghĩa, cả Nhật lẫn Pháp đều hoảng sợ. Do bản chất phản động của chúng, thực dân Pháp hòa hoãn với phát-xít Nhật để rảnh tay đàn áp cách mạng Việt Nam. Phát-xít Nhật cũng thấy lật đổ ngay thực dân Pháp chưa có lợi nên nhanh chóng thỏa hiệp với thực dân Pháp, dùng chúng làm công cụ đàn áp quân khởi nghĩa.

Thực dân Pháp cho quân chiếm lại đồn Bình Gia, đồn Mỏ Nhài. Quân khởi nghĩa phải rút vào rừng. Cuộc khủng bố trắng bắt đầu.

Được báo cáo về cuộc khởi nghĩa, Xứ ủy Bắc Kỳ cử đồng chí Trần Đăng Ninh lên Bắc Sơn trực tiếp lãnh đạo phong trào.

Trung tuần tháng 10 năm 1940, Ban chỉ huy Khu được thành lập do đồng chí Trần Đăng Ninh đứng đầu. Ban chỉ huy nêu cao khẩu hiệu đánh Pháp đuổi Nhật, tuyên bố giải tán ngụy quyền địa phương, tịch thu bằng, triện và đốt sổ sách của tổng lý, kỳ hào, thành lập đội du kích, diệt mật thám đầu sỏ, tuyên truyền giải thích chính sách của Đảng trong quần chúng, tổ chức quần chúng sẵn sàng đối phó với địch. Lực lượng du kích của ta lúc đó khá lớn, lấy vùng Đon Úy, Bó Tát, Sa Khao, Nam Nhi, Vũ Lăng... làm trung tâm khu căn cứ du kích.

Thực dân Pháp tập trung khoảng một trăm lính dõng chiếm đóng trường học Vũ Lăng, thực hiện âm mưu mở rộng khủng bố. Ngày 25 tháng 10 năm 1940, quân cách mạng chia làm hai mũi tiến đánh trường Vũ Lăng. Trước khí thế uy hiếp của quân cách mạng, lính địch bắn chỉ thiên vài phát, rồi tìm đường chạy trốn.

Ba hôm sau... Ngày 28 tháng 10 năm 1940, quần chúng cách mạng tổ chức một cuộc mít-tinh ở sân trường Vũ Lăng, chuẩn bị chiếm lại đồn Mỏ Nhài.

Sau khi nắm lại được một số lớn dõng và tổng đoàn, thực dân Pháp dùng bọn mật thám địa phương để dắt đội quân của tên Boóc-di-ê, chủ đồn điền ở Dinh Cả, và lính tập từ Mỏ Nhài đi theo đường tắt vào, đánh úp ta. Quần chúng cách mạng tản vào rừng. Đội du kích bị phân tán mỗi người một ngả.

Địch tiến vào Vũ Lăng, bắn giết quần chúng cách mạng, đốt phá làng bản. Chúng «sức» cho nhân dân phải «lập công chuộc tội», cắt đầu cán bộ nộp cho chúng. Bọn tổng, xã đoàn vác loa đi các làng, các xóm, các lân, đòi «Cộng sản» phải ra đầu thú chính phủ Pháp.

Tháng 11 năm 1940, Hội nghị lần thứ bảy của Trung ương họp. Thực tế của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn làm cho Đảng ta thấy rõ, dưới hai tầng áp bức, bóc lột của phát-xít Nhật — Pháp «một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy, Đảng phải chuẩn bị gánh lấy cái sứ mệnh thiêng liêng lãnh đạo cho các dân tộc bị áp bức ở Đông Dương vũ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập»(1). Tuy nước ta «chưa đứng trước một tình thế trực tiếp cách mạng», nhưng trong điều kiện thế giới và trong nước hồi bấy giờ, cuộc cách mạng của nước ta có thể nổ ra bằng những cuộc khởi nghĩa địa phương ở những nơi có điều kiện (chẳng hạn như Bắc Sơn), tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Về vấn đề phát triển ảnh hưởng của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, sau khi nghe đồng chí Trần Đăng Ninh báo cáo, Hội nghị quyết định duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn, thành lập những đội du kích, dùng hình thức vũ trang công tác khi cần thì chiến đấu chống khủng bố, bảo vệ sinh mệnh, tài sản của nhân dân, phát triển cơ sở cách mạng, lấy vùng Bắc Sơn — Võ Nhai làm trung tâm, do Trung ương trực tiếp chỉ đạo.

Đồng chí Hoàng Văn Thụ được giao trách nhiệm cùng các đồng chí ở địa phương thực hiện nghị quyết này.

*
* *
Được sự chăm sóc của Trung ương, sau khi được tăng cường một số cán bộ ở trường quân sự Bắc Giang và ở vùng xuôi lên, đội du kích Bắc Sơn được tập họp lại. Ban chỉ huy khu du kích Bắc Sơn lúc này có anh Vân (một bí danh của đồng chí Hoàng Văn Thụ), anh Giáo (một bí danh của đồng chí Lương Văn Chi, tức Huy) và tôi; anh Vân phụ trách chung. Cơ quan Ban chỉ huy lúc đầu đóng ở Đon Úy (gần Vũ Lăng), sau rút dân dần về Vũ Lễ, Khuổi Nọi.

Thời gian này, với khẩu hiệu hoạt động bí mật, vũ trang tuyên truyền, đội du kích Bắc Sơn đã chia thành từng tổ, gây lại cơ sở Đảng và cơ sở quần chúng. Phong trào luyện tập quân sự phổ biến ở khắp các xã. Giữa lúc ấy Ban chỉ huy khu du kích nhận được chỉ thị: chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới...

(1) Văn kiện Đảng (25-1-1939 – 2-9-1945) – Sự thật, Hà Nội, 1963 – Đoạn: B – Tình hình chính trị Đông Dương.

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.

macbupda

Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL

Kỷ niệm Cứu quốc quân - Thượng tướng Chu Văn Tấn« Trả lời #2 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2019, 07:27:26 am »
I
Từ sau Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, Trung ương đã nhiều lần cho cán bộ ra nước ngoài để chắp lại mối liên lạc với Quốc tế cộng sản và bộ phận hải ngoại của Đảng. Việc đi ra nước ngoài lúc đó rất khó khăn. Có lần có đồng chí đã sang tới Long Châu (Trung Quốc) đợi hai tháng vẫn không gặp được liên lạc, lại phải quay về. Đi một mình đã khó, đi thành đoàn càng khó.

Sang đầu năm 1941, chúng tôi nhận được chỉ thị: tìm đường và bảo vệ Trung ương đi công tác. Mãi về sau tôi mới biết đây là một chuyến công tác hết sức quan trọng : các đồng chí đi dự Hội nghị Trung ương lần thứ tám do Bác Hồ triệu tập.

Tháng 2 năm 1941, các đồng chí Sơn (Trường Chinh), Vân (Hoàng Văn Thụ), Chính (Hoàng Quốc Việt), Trần Đăng Ninh lên tới Võ Nhai. Qua làng tôi, các đồng chí nghỉ lại một thời gian. Sau, mọi người lên cơ quan của Ban chỉ huy khu du kích Bắc Sơn ở Khuổi Nọi để chuẩn bị thêm về mọi mặt.

Chính thời gian ở Khuổi Nọi, anh Vân cho biết quyết định của Trung ương : đổi tên Đội Du kích Bắc Sơn thành Cứu quốc quân. Ý định này của Trung ương đã có từ cuối năm 1940. Đội quân khởi nghĩa đã được lọc lại qua mấy tháng chiến đấu gian khổ, ác liệt nay còn lại vừa một trung đội.

Ngày 14 tháng 2 năm 1941, Trung đội Cứu quốc quân I làm lễ chính thức thành lập ở khe Khuổi Nọi, bên một dòng suối nhỏ chảy giữa cánh rừng sâu của xã Vũ Lễ, giáp hai châu Võ Nhai và Bắc Sơn. Xế chiều, anh em đã tới đông đủ đứng trên nền nhà cũ của hai anh em Lô và Liêu. Từ Võ Nhai đến có Nông Thái Long, Nhì Phung và tôi, lúc đó lấy tên là Ba ; từ Bắc Sơn có các anh Bình, Quốc Vinh, Đường Văn Thức, Đường Văn Tư, Hoàng, Tần, Ruệ, Vẩn Sang, Hác Chắp, Phó Sáng ; ở xuôi lên có các anh Nguyễn Cao Đàm (tức Độ), Bình, Đắc, Bút, An (tức Hoàng Văn Thái), ông già Sính (tức Mạnh, quê ở Thái Bình), Lương Văn Chi (tức Giáo) v.v. Toàn đội gồm 24 chiến sĩ là cán bộ, đảng viên miền xuôi và miền ngược đã lớn lên trong Bắc Sơn khởi nghĩa, đã từng hoạt động trong đấu tranh sống chết với quân thù.

Suối rừng reo vui chào đón những người đi làm cách mạng từ bốn phương tụ hội ở đây. Anh Vân thay mặt Trung ương dự buổi lễ này.

Anh Vân là người dân tộc Tày ở Lạng Sơn. Anh tạng người gầy, nhưng đi núi quen, trèo đèo lội suối giỏi. Anh vẫn thường qua lại nhà tôi. Tôi coi anh như người anh trong nhà, vừa thân mật vừa rất tôn trọng, quý mến.

Với cử chỉ điềm đạm, ung dung, anh Vân bước ra trước hàng quân. Giọng sang sảng, anh nói đại ý :

— Chúng ta đang phải sống trong cảnh nước mất nhà tan. Tổ quốc chúng ta đang điêu đứng vì giặc Nhật, giặc Pháp. Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn tuy tạm thời thất bại, nhưng nó đã chứng tỏ tinh thần quật khởi của dân ta ngày một dâng cao, không gì dập tắt được. Cuộc khởi nghĩa đã tạo cho nhân dân ta một lực lượng vũ trang cách mạng. Chúng ta phải giữ gìn và phát triển vốn quý đó. Vì vậy Trung ương quyết định thành lập Đội Cứu quốc quân. Là Cứu quốc quân, các đồng chí phải nêu cao truyền thống của Quân du kích Bắc Sơn, chịu đựng gian khổ — Phải giữ bí mật cho tốt !

Về nhiệm vụ của Cứu quốc quân, anh Vân nêu rõ:

— Cứu quốc quân phải dùng hình thức vũ trang công tác, khi cần thì chiến đấu chống khủng bố, bảo vệ sinh mệnh, tài sản của nhân dân, phát triển cơ sở cách mạng, xây dựng căn cứ địa du kích. Cứu quốc quân sẽ là nơi để anh em các nơi khác tới học tập. Với vị trí quan trọng của Bắc Sơn, các đồng chí còn có nhiệm vụ bảo vệ các cán bộ Đảng qua lại vùng này...

Sau khi truyền đạt chỉ thị của Trung ương, anh Vân trao cho chúng tôi một lá cờ đỏ sao vàng có tua rất đẹp do phong trào của phụ nữ Hà Nội gửi tặng. Tiếp đó, anh Giáo đọc năm lời thề(1) của Cứu quốc quân. Rồi đến tôi thay mặt anh em, hứa «sẽ làm tròn nhiệm vụ Đảng giao cho... Cứu quốc quân không nề gian khổ, không ngại khó khăn, không sợ hy sinh, quyết tâm xây dựng phong trào lớn mạnh».

Buổi lễ xong, anh Vân và tôi trở về cơ quan. Dọc đường, anh Vân cho biết Trung ương chỉ định tôi vào Xứ ủy và nói rõ lần này các đồng chí Trung ương sẽ đi dự Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng và chúng tôi được giao phụ trách việc bảo vệ đoàn đi họp.

Tôi thuộc đường trên này như những đường chỉ trong lòng bàn tay mình. Vì cái công việc «ký ca-dát»(2) và làm gỗ để che mắt bọn mật thám địa phương đã đưa tôi đến những khu rừng sâu nhất, những con đường hẻo lánh nhất. Đồng chí Tài, cán bộ địa phương và đồng chí Lam, đội viên Cứu quốc quân người Lạng Sơn cũng được chọn đi làm nhiệm vụ này. Hai đồng chí đều là «thổ công» ở vùng các đồng chí Trung ương sắp phải đi qua.

Thật là vinh dự cho những người được chọn đi làm công tác đặc biệt này ! Chúng tôi vừa mừng vừa lo. Mừng là vì thấy được phụ trách một việc đầu tiên do Trung ương trực tiếp trao cho Cứu quốc quân: bảo vệ Trung ương đi dự một hội nghị có quan hệ đến vận mệnh cả nước. Lo vì biết trước đường đi sẽ rất gian lao nguy hiểm, phải trèo đèo lội suối, phải vượt qua nhiều đồn địch trong khi chúng đang tung hàng ngàn binh lính và mật thám bao vây. Nhất định bảo đảm an toàn cho các đồng chí Trung ương ! Tôi hứa với anh Vân :

— Chúng tôi quyết tâm bảo vệ Trung ương đi đến nơi về đến chốn.

Hạ thấp giọng, anh Vân nói :

— Đi lần này có thể gặp đại biểu quốc tế...

Trong lời nói ấy của anh tôi cảm thấy tràn đầy lòng tin tưởng và tình cảm thiết tha. Tôi bồi hồi nghĩ đến chuyến đi sắp tới. « Nhưng còn công việc ở nhà, ở đơn vị, nhất là đơn vị mới thành lập?». Như đoán biết nỗi băn khoăn ấy, anh Vân nói ngay :

— Trung ương chỉ định anh Chi ở lại phụ trách với nhiệm vụ tổ chức giữ con đường từ Bắc Sơn về Đình Cả và huấn luyện đơn vị Cứu quốc quân. Tôi đã nói chuyện với anh Chi.

Anh Chi — mà chúng tôi thường gọi là anh Giáo — đã từng cùng anh Vân ra hoạt động ở nước ngoài. Anh có học ở Học hiệu quân sự ở Trung Quốc. Chúng tôi đã được anh dìu dắt, chỉ bảo nhiều về chính trị, quân sự. Cũng vì thế chúng tôi gọi anh là anh Giáo. Anh là người Tày, mắt một mí, sống mũi cao, vóc người anh nhỏ nhắn, rõ ra dáng «văn nhân». Tuy nhiên, tác phong của anh lại rất mạnh mẽ, nhanh nhẹn, rất quân sự...

Chuyện trò, suy nghĩ dọc đường, về đến cơ quan lúc nào không hay. Ở nhà, anh em đang đan sọt để chuẩn bị lên đường...

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn