Kỷ niệm khó quên cựu chiến binh Khổng Trọng Hồng
Cựu chiến bình Khổng Trọng Hồng, Sinh ngày 24 tháng 6 năm 1958, tại Bản Vần, xã Việt Hồng, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Tuổi thơ gắn với nương rẫy, con suối đầu nguồn và những câu chuyện cha ông kể về giữ đất, giữ làng. Chính từ mảnh đất ấy, tinh thần bền bỉ và lòng yêu quê hương đã ngấm sâu vào máu thịt người con vùng cao.
Ngày 13 tháng 5 năm 1978, Khổng Trọng Hồng lên đường nhập ngũ, rời Bản Vần thân thương để khoác trên mình màu áo xanh người lính Quân đội Nhân dân Việt Nam. Những tháng ngày huấn luyện tại Trung đoàn 124 là chuỗi ngày gian khổ nhưng đầy tự hào. Từ những buổi hành quân dài trong rừng sâu, đến những giờ tập bắn, tập đánh gần, tất cả đều đã tôi luyện bản lĩnh của người lính sẵn sàng ra trận.
Đến tháng 8 năm 1978, Trung đoàn 124 sáp nhập vào Sư đoàn 345, Quân đoàn 29, Quân khu 2, đóng quân tại tỉnh Lào Cai (cũ). Không khí nơi biên giới ngày một căng thẳng. Những ca gác đêm kéo dài, những cuộc hành quân khẩn trương báo hiệu rằng một cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc đang đến rất gần.
Rạng sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, pháo địch bất ngờ trút xuống dữ dội. Núi rừng Bản Sen, Bản Vần, huyện Mường Khương rung chuyển trong tiếng nổ chát chúa. Đất đá tung lên, công sự sập xuống, khói thuốc súng phủ kín cả sườn núi.
Khi pháo ngớt, bộ binh địch tràn lên. Lệnh chiến đấu được truyền đi nhanh gọn. Người lính trẻ bình tĩnh chiếm lại vị trí, lợi dụng từng mỏm đá, gốc cây, từng đoạn chiến hào để đánh trả. Có lúc, khoảng cách giữa ta và địch chỉ còn vài chục mét. Mỗi phát bắn đều phải chính xác, mỗi động tác đều phải dứt khoát, bởi chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể trả giá bằng mạng sống.
Những ngày tiếp theo là chuỗi thời gian bám chốt dài ngày trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt. Địch đánh phá liên tục, đường tiếp tế bị chia cắt. Nước uống trở nên khan hiếm, mỗi tổ chỉ còn lại vài bi đông nhỏ. Khổng Trọng Hồng cùng đồng đội phải chia nhau từng ngụm nước, uống cầm hơi để giữ sức. Có hôm, trời đổ mưa rừng, cả tổ vội vàng hứng nước bằng mũ sắt, áo mưa, thậm chí bằng lá cây. Nước mưa lẫn bùn đất, tanh mùi thuốc súng, nhưng với họ, đó là nguồn sống để tiếp tục trụ vững nơi chiến hào.
Không chỉ thiếu nước, đạn dược cũng dần cạn kiệt. Sau nhiều đợt đánh trả, mỗi người lính chỉ còn lại vài băng đạn. Với tinh thần: “Bắn chắc, giữ chốt bằng mọi giá.” Từ đó, từng viên đạn được tính toán cẩn thận. Có những thời khắc, cả tổ nằm im giữ vị trí, nín thở chờ địch áp sát, tim đập dồn dập trong lồng ngực, đêm tối mịt mù, sau bao ngày mai phục cả tổ đội phát hiện lích địch áp sát, với kinh nghiệm chiến đấu cựu chiến binh Khổng Trọng Hồng đã cùng đồng đội chiến đấu oanh liệt, nổ súng tiêu diệt địch, đẩy lùi các đợt tấn công của địch, giữ chắc trận địa. Giữa mưa bom bão lửa, quá trình chiến đấu oanh liệt đồng đội bị thương, Khổng Trọng Hồng cùng hai đồng chí khác băng qua trận địa để kéo một thương binh về phía sau. Đạn pháo nổ sát bên, đất đá văng kín lưng áo, nhưng không ai buông tay. Khi đưa được đồng đội về trạm cứu thương dã chiến, cả ba mới nhận ra tay chân mình rớm máu vì mảnh đá cứa, nhưng trong lòng nhẹ đi vì đã giữ được một mạng người.
Cũng có những mất mát không gì bù đắp. Đồng đội ngã xuống ngay bên chiến hào, nơi mới hôm qua còn cùng nhau chia nắm cơm, điếu thuốc. Những lễ tiễn đưa vội vàng giữa chiến trường, không kèn, không hoa, chỉ có lời hứa thầm lặng của người ở lại: chiến đấu đến cùng để giữ vững biên cương Tổ quốc.
Từ ngày 18/02 đến 04/03/1979, Khổng Trọng Hồng cùng đơn vị kiên cường bám trụ tại Bản Sen, Bản Vần, đẩy lùi nhiều đợt tiến công, giữ vững trận địa trong những ngày ác liệt nhất của cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc.
Sau chiến tranh, cựu chiến binh Khổng Trọng Hồng tiếp tục gắn bó với quân ngũ cho đến ngày 28 tháng 6 năm 1983, khi hoàn thành nghĩa vụ và xuất ngũ, phục viên. Trên ngực áo người lính năm xưa lấp lánh Huân chương Chiến công hạng 3 và Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng 3 – sự ghi nhận cho những tháng ngày tuổi trẻ đã đi qua trong khói lửa.
Hôm nay, trở về với đời thường, Khổng Trọng Hồng đang sinh sống tại Bản Vần, xã Việt Hồng, tỉnh Lào Cai. Cuộc sống giản dị nơi bản làng không làm phai nhạt ký ức chiến tranh. Trong lòng cựu chiến binh vẫn cháy âm ỉ ngọn lửa của thời Hoa lửa – ngọn lửa của lòng yêu nước, của tình đồng đội, của một thế hệ đã sẵn sàng hy sinh tuổi xuân để đất nước được bình yên.



