Năm 1958, khi đang công tác tại sân bay Đồng Hới, tôi được đơn vị cho đi đào tạo về chuyên ngành vô tuyến điện không quân tại Học viện Kỹ thuật quân sự Trung Quốc. Năm 1965, khi đơn vị bắt đầu trang bị MIG-21, tôi cùng các anh Trần Thanh, Nguyễn Đình Kiên, ... được phân công khai thác sử dụng thiết bị vô tuyến - ra đa trên MIG-21 để huấn luyện cho các đơn vị. Chúng tôi phấn khởi nghiên cứu, biên dịch và soạn giáo án các thiết bị mới để truyền đạt cho các cán bộ, nhân viên kỹ thuật của các đơn vị. Hoàn thành nhiệm vụ, tôi được điều động về làm kỹ thuật thông tin sân bay Nội Bài.
Công việc có nhiều mới mẻ đối với tôi, nhưng nhờ những ngày được nghiên cứu kỹ các thiết bị vô tuyến chỉ huy và dẫn đường trên máy bay, tôi đã nhanh chóng tiếp cận và làm chủ kỹ thuật hầu hết các thiết bị vô tuyến - ra đa trên sân bay. Đó là những trang thiết bị hiện đại của ngành Thông tin - Ra đa không quân.
Công tác trong ngành thông tin không quân, do hiểu biết về thiết bị vô tuyến trên máy bay, tôi đã có những đề xuất mạnh dạn cải tiến thiết bị vô tuyến chỉ huy, phục vụ kịp thời cho yêu cầu chiến đấu của đơn vị. Việc đầu tiên là tận dụng các máy bay PCUY-3M, PCUY-4M... để lắp ráp thành bộ đối không cơ động, trang bị cho các sở chỉ huy cơ động và các tổ chỉ huy bổ trợ, đồng thời tổ chức lắp ráp các máy phát dẫn đường công suất nhỏ để các máy APK-5, APK- 10 trên máy bay có thể dẫn hướng cho máy bay đến khu vực hoạt động ở miền Trung và bên Lào. Tiếp theo là tiến hành tổ chức việc tự động chuyển tiếp bằng xe thu phát VHF công suất lớn, tăng cự ly chỉ huy máy bay ở khu vực rừng núi miền Trung. Với kinh nghiệm có được trong quá trình thực hiện một loạt các cải tiến kỹ thuật. Sau ngày miền Nam được giải phóng, với cương vị là chủ nhiệm thông tin - ra đa Quân chủng, tôi càng chú trọng hơn đến việc tận dụng các thiết bị vô tuyến điện trên các máy bay thu được của địch để trang bị cho các sở chỉ huy và các sân bay ở cả hai miền Nam - Bắc. Nhiều thiết bị đối không như: GRT-3, GRT-18, GRT-27..., các thiết bị trên máy bay hệ 2 như: 807A, AN/ARC-51, AN/ARC-34,... và các thiết bị liên lạc mặt đất như: KWM-2A, RT-524, BC-610, GRC-26... đều được duy trì sử dụng trong Quân chủng trong nhiều năm sau.
Vào những năm 1982 - 1985, Quân chủng đã trang bị thêm nhiều loại máy bay mới, trang bị thông tin - ra đa - ánh sáng đảm bảo bay cũng đồng thời được bổ sung nhiều trang thiết bị hiện đại. Yêu cầu đối với thông tin chỉ huy phải cao hơn nhiều nhưng hệ thống thông tin chỉ huy mặt đất lại chưa có gì thay đổi, chủ yếu vẫn dựa vào vô tuyến điện báo, trình độ báo vụ lại kém hơn nhiều so với thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, nên việc bảo đảm thông tin chỉ huy ngày càng gặp nhiều khó khăn. Phương thức thông tin VTĐ truyền chữ có chất lượng cao hơn, nhưng đòi hỏi có các loại trang bị phức tạp đắt tiền, hơn nửa yêu cầu phải có các nhân viên chuyên nghiệp mới có thể duy trì liên lạc được tốt.Phòng thông tin cân nhắc các phương án và đã quyết định chọn cách cải tiến tải báo TVT của Hungary để có thể ghép nối máy truyền chữ vào tất cả các loại kênh truyền: VTĐ sóng ngắn, sóng cực ngắn và hữu tuyến tải ba, ... để nâng cao chất lượng và tốc độ liên lạc. Các đồng chí kỹ sư Trần Trọng Thịnh, TS. Nguyễn Xuân Đóa đã kết hợp với phòng VT-ĐT Viện Kỹ thuật Không quân lắp ráp rơ le điện tử thay thế rơ le cơ khí trong máy tải báo nâng cao được chất lượng liên lạc truyền chữ trên kênh VTĐ sóng ngắn. Để có thể làm được liên lạc truyền chữ trên tất cả các kênh thông tin hiện có, KS Trần Thanh Bình phòng Thông tin đã thiết kế, lắp ráp một loại tải báo vi mạch thay cho tải báo TVT, sao cho trong lúc làm việc chỉ cần tắt mở máy mà không cần điều chỉnh gì cả, như vậy sẽ ghép nối truyền chữ vào tất cả các loại kênh liên lạc, việc sử dụng cũng sẽ đơn giản đi rất nhiều. Nhờ đó, chất lượng thông tin chỉ huy đã được nâng lên một bước.
Việc sử dụng nhiều máy truyền chữ đã gây nhiều ồn ào trong SCH Không quân, nên năm 1986 Tư lệnh Quân chủng đã quyết định cho thông tin mua hai máy vi tính quả táo II, KS. Trần Thanh Bình đã dùng máy vi tính liên kết 3 mạng truyền chữ vào một máy vi tính dùng ở SCH thay cho 3 máy truyền chữ, biên chế nhân viên sử dụng cũng được giảm đi. Tiếp nữa, KS. Trần Thanh Bình lại kết hợp với Trung tâm Toán - Máy tính quân đội thiết kế lắp ráp tổng đài truyền chữ điện tử 8 kênh, dùng lại CPU 8085A, bộ nhớ RAM 8KB. Cho đến lúc này thì trong Quân chủng đã hình thành một tổ chức thông tin truyền chữ rộng khắp từ Bắc đến Nam sử dụng các kênh VTĐ sóng ngắn và sóng cực ngắn trên dải tần số 100 - 150MHZ, cải thiện được một bước chất lượng thông tin chỉ huy.Tuy rằng tốc độ liên lạc truyền chữ đã nhanh hơn tốc độ liên lạc VTĐ báo nhiều lần, nhưng vẫn còn bị hạn chế bởi tốc độ 50 bit/s của máy truyền chữ. Muốn nâng cao tốc độ liên lạc, đồng thời nâng cao tính bảo mật và khả năng chống nhiễu, phòng Thông tin lại chủ trương thiết kế lắp ráp một thiết bị ghép nối chuyên dụng khác thay thế cho loại tải báo vi mạch. Vào giai đoạn này, tính năng của máy vì tính còn bị hạn chế, cho nên trong thiết bị ghép nối phải có bộ nhớ và thực hiện việc truyền tin từ bộ nhớ sang bộ nhớ của thiết bị ghép nối, do đó giải phóng cho máy vi tính trong thời gian truyền tin, để máy vi tính trung tâm có khả năng quản lý nhiều mạng truyền chữ cùng một lúc. KS. Trần Thanh Bình kết hợp với các cán bộ kỹ thuật Viện Kỹ thuật quân sự đã thiết kế lắp ráp thiết bị này. Thiết bị sẽ tự động thực hiện thủ tục bắt liên lạc, tự động truyền tin với tốc độ 300 bit/s, có chương trình kiểm tra và sửa lỗi, có khả năng tương thích với các loại kênh truyền có chất lượng khác nhau, có địa chỉ để tiện cho việc tổ chức hên lạc mạng. Thiết bị này còn được kết hợp để thiết lập một mạng báo động nhanh dùng hình thức hiện số và phát âm thanh. Thiết bị ghép nối này thực tế là một bộ xử lý chuyên dụng, dùng loại CPU 6800 có bộ nhớ RAM 4KB hoặc 8KB, ở đầu cuối, thiết bị này chuyển đổi mã ASCII thành mã truyền chữ và đưa số liệu từ bộ nhớ ra máy truyền chứ với tốc độ 50 bit/s. Khi dùng máy truyền chữ nạp số liệu vào máy tính trung tâm thì theo trình tự ngược lại. Cho đến lúc này thì tổ chức thông tin chỉ huy trong Quân chủng đã là hệ thống báo động nhanh, liên lạc thoại, truyền chữ và vi tính kết hợp.
Do sử dụng nhiều máy truyền chữ, với loại mới như T-100 còn khá, các loại máy cũ như máy Đức T-51, máy Mỹ FGC-97 thì phụ tùng vật liệu thay thế ngày càng khó khăn. Vào lúc này, ở Việt Nam đã có máy vi tính xách tay, giá tiền cũng xấp xỉ giá máy truyền chữ T- 100, nên Quân chủng lại cho mua máy vi tính xách tay thay cho máy truyền chữ. KS. Trần Thanh Bình lại kết hợp với cán bộ kỹ thuật Viện Kỹ thuật quân sự II và Trung tâm Toán - Máy tính quân đội thiết kế lắp ráp thiết bị chuyên dụng dùng cho việc truyền số liệu giữa các máy vi tính thông qua các loại kênh thông tin. Thiết bị này vẫn được thiết kế để thực hiện truyền tin từ bộ nhớ sang bộ nhớ của thiết bị ghép nối để giảm nhẹ công việc cho máy tính trung tâm. Nếu đầu cuối dùng máy truyền chữ thì có lắp thêm thiết bị bổ trợ để chuyển đổi mã ASCII thành mã truyền chữ và đưa số liệu ra với tốc độ 50 bit/s. Nếu đầu cuối là nhân viên báo vụ thì lại lắp thêm thiết bị bổ trợ để chuyển mã ASCII thành mã móc và phát tín hiệu moóc cho báo vụ nhận điện. Khi nạp số liệu vào thì báo vụ gõ manip, thiết bị bổ trợ sẽ chuyển mã moóc thành mã ASCII và chuyển số liệu sang thiết bị ghép nối để phát đi. Đến đây thì thông tin không quân trở thành đơn vị đi đầu trong thông tin toàn quân thực hiện được việc truyền số liệu bằng máy tính qua các kênh truyền sóng ngắn và sóng cực ngắn.
Tiếp đó, phòng Thông tin lại cho dùng máy vi tính để thiết kế tổng đài truyền số liệu đa kênh, có thể ghép nối với nhiều loại kênh truyền khác nhau và có thể làm việc với nhiều tốc độ truyền tin: 300, 600, 1200 bit/s. Đến lúc này thì hệ thống thông tin truyền số liệu đã trở thành hệ thống chủ yếu để bảo đảm thông tin chỉ huy cho quân đội trên phạm vi toàn quốc.
Trên cơ sở hệ thống thông tin truyền số liệu của Quân chủng, năm 1990 Tư lệnh Quân chủng lại cho phòng Thông tin - Ra đa thực hiện đề tài: "Thu thập và xử lý tín hiệu ra đa của 6 đại đội ra đa dẫn đường bố trí trên các sân bay phía Bắc" , và đề tài đã được Cục Quản lý khoa học Bộ Quốc phòng tổ chức nghiệm thu vào năm 1992.
Ngày nay khi hệ thống thông tin bưu điện và quân sự đã được hiện đại hóa, các máy vi tính cao cấp, các máy fax, các mô đem truyền số liệu tốc độ cao v.v... đã có nhiều trên thị trường, nhưng hệ thống thông tin truyền số liệu trên sóng VTĐ vẫn không hề giảm đi ý nghĩa và công dụng thiết thực của nó đối với thông tin quân sự, nhất là khi cần tổ chức thông tin cơ động và phân tán trên diện rộng.
Từ đây có thể rút ra vấn đề: Cán bộ kỹ thuật của ta rất thông minh và sáng tạo, chỉ cần mở hướng và tạo điều kiện thuận lợi là anh em có thể sáng tạo ra nhiều kỳ tích để phục vụ cho nhiệm vụ xây dựng và sẵn sàng chiến đấu của Quân chủng.
Ngày nay, chúng ta đang sống trong thập kỷ kỹ thuật số - một thời kỳ lịch sử khi mà hầu hết tất cả những gì chúng ta làm đều có sự tác động của máy tính. Những tiến bộ vượt bậc về khoa học - kỹ thuật trong nhiều thập kỷ, đặc biệt thế kỷ XX vừa qua đã mang lại cho con người nhiều khả năng và giải pháp mới trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Nhưng để tận dụng được khả năng đó, biến nó thành hiệu quả thực tế lại tùy thuộc vào từng con người, từng tổ chức, từng quốc gia. Điều quan trọng là ở người đứng đầu, phải là người có đủ sức quan sát xuất chúng, có thể nhìn rõ xu thế phát triển của sự việc để có thể đón đầu đi lên. Không có tầm nhìn thì không sử dụng được thời thế. Cơ hội mà thời thế cho mỗi người đương thời đều là công bằng, mấu chốt là ở chỗ có ai đó có thể nắm lấy nó. Không phải là thời thế chọn con người, mà là con người chọn thời thế.
|