KỸ SƯ VÕ QUÝ HUÂN VÀ MẺ GANG THÉP LỬA HỒNG PHỤNG SỰ TỔ QUỐC
Giữa những năm tháng kháng chiến trường kỳ gian khổ, khi Tổ quốc cần những bộ óc khoa học kiệt xuất để tự chủ vũ khí và kiến tạo nền công nghiệp quốc phòng, kỹ sư Võ Quý Huân đã dũng cảm gác lại cuộc sống đầy đủ, tiện nghi nơi trời Âu để theo chân Bác Hồ về nước. Từ kinh đô ánh sáng Paris hoa lệ trở về chiến khu Việt Bắc mịt mùng khói lửa, ông đã biến trí tuệ, mồ hôi và cả tâm huyết của tuổi trẻ thành những mẻ gang, mẻ thép đầu tiên, đặt những viên gạch hồng đầu tiên cho ngành luyện kim và cơ khí nước nhà.
Từ trí thức trời Âu đến tiếng gọi non thiêng
Sinh năm 1912 tại Đà Nẵng trong một gia đình có truyền thống hiếu học gốc xứ Nghệ (Thanh Chương, Nghệ An), tuổi trẻ của Võ Quý Huân sớm sục sôi tinh thần yêu nước. Thập niên 1930, tận mắt chứng kiến cảnh đồng bào chịu ách áp bức dưới gót giày thực dân, ông từng cùng các đồng chí ra báo Đông Dương (L'activité Indochinoise) tại Vinh để truyền bá tư tưởng tiến bộ. Trước sự đàn áp của thực dân Pháp, ông sang Pháp du học và xuất sắc giành tới ba bằng kỹ sư danh giá: Cơ điện, Đúc - Luyện kim và Kỹ nghệ chuyên nghiệp. Tại Pháp, ông trở thành đảng viên Đảng Cộng sản từ năm 1939 và là một trí thức Việt kiều uy tín hết lòng hướng về quê hương.
Bước ngoặt lớn nhất cuộc đời ông đến vào mùa hè năm 1946. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Pháp theo lời mời của Chính phủ Pháp, Người đã đặc biệt quan tâm, vận động và đưa các trí thức ưu tú về nước phụng sự Tổ quốc. Giữa lúc ấy, kỹ sư Võ Quý Huân đang có một gia đình êm ấm tại Paris với người vợ và cô con gái nhỏ. Nhưng tiếng gọi non sông gấp gáp, lời căn dặn của Bác Hồ đã chạm đến trọn vẹn trái tim người con nặng tình đất nước. Gác lại tình riêng, ông từ bỏ cuộc sống phương Tây nhung lụa, bước lên chuyến tàu cùng Bác Hồ trở về gánh vác sứ mệnh quốc gia.
"Thời hoa lửa" giữa chiến khu: Kiến tạo ngành đúc - luyện kim từ con số không
Về nước, kỹ sư Võ Quý Huân được giao trọng trách lớn làm Giám đốc Sở Khoáng chất kỹ nghệ Trung bộ, rồi sau đó dấn thân thẳng vào các chiến khu kháng chiến. Trong bối cảnh thiếu thốn trăm bề, máy móc không, nguyên liệu thiếu, ông cùng các cộng sự phải tự tay mày mò, thiết kế từng chiếc lò cao, tìm kiếm quặng mỏ để sản xuất gang thép phục vụ việc đúc súng đạn.
Khoảng thời gian ấy chính là "thời hoa lửa" oanh liệt nhất của nhà khoa học Võ Quý Huân. Ông cùng anh em công nhân ăn bờ ngủ bụi, đối mặt với đói khát, sốt rét rừng và những trận càn quét hiểm ác của giặc. Dưới bàn tay và khối óc của ông, những mẻ gang, mẻ thép đầu tiên của nền công nghiệp kháng chiến đã ra lò, hóa thành vũ khí sắc bén tiếp sức cho bộ đội ta ra trận. Mỗi lần cơ sở bị địch phá hủy phải di dời, ông lại cùng đồng đội thiết kế lại những lò cao mới với công suất tối ưu hơn. Không chỉ là chuyên gia luyện kim hàng đầu, ông còn là người thầy tận tụy, đặt những móng vuốt đầu tiên cho sự nghiệp đào tạo thế hệ công nhân kỹ thuật nước nhà (với vai trò Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Trung cấp Kỹ thuật 1 Hà Nội - nay là Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội).
Khúc trác ca của người kỹ sư suốt đời vì Tổ quốc
Cống hiến trọn vẹn sức lực cho nền độc lập dân tộc, kỹ sư Võ Quý Huân qua đời vào tháng 9 năm 1967 do bệnh trọng. Cuộc đời ông khép lại nhưng để lại một di sản vĩ đại: Người "cha đẻ của lò cao Việt Nam" trong kháng chiến, tấm gương sáng ngời của một trí thức cách mạng tuyệt đối trung thành với Đảng và nhân dân.
Thông điệp truyền thông & Hành trình kết nối hai thế hệ:
"Thời hoa lửa" của kỹ sư Võ Quý Huân không chỉ rực sáng trên những trang bản vẽ kỹ thuật hay ánh lửa bập bùng của những mẻ lò cao chiến khu, mà còn tỏa ngát từ sự hy sinh thầm lặng, từ quyết định dấn thân cao cả vì đại cục.
Tên tuổi của ông – nay được vinh danh trên những tuyến phố lớn của Thủ đô – mãi mãi là ngọn lửa soi đường, nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay về lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần tự lực tự cường và khát vọng cống hiến trí tuệ cho sự phồn vinh của quê hương, đất nước.



