Bài viết

Kỳ tích của người lính đặc công 41 kg trên tuyến lửa Trường Sơn

TP. Hồ Chí Minh04/07/2026Chi đoàn trường THCS Bình Thắng (Chi đoàn trường THCS Bình Thắng - Đoàn phường Đông Hoà)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Kỳ tích của người lính đặc công 41 kg trên tuyến lửa Trường Sơn

Giữa vùng quê yên bình Bà Khê (xã Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh), có một người thương binh tuổi ngoài tám mươi vẫn ngày ngày sống giản dị như bao người nông dân khác. Ít ai biết rằng đằng sau dáng người gầy gò, bước chân tập tễnh ấy là cả một cuộc đời gắn với những chiến công oanh liệt trên chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng. Đó là cựu chiến binh Lê Huy Xuân, người lính đặc công nước từng lập nhiều chiến công xuất sắc trong những năm kháng chiến chống Mỹ.

Năm 1963, khi vừa bước vào tuổi thanh niên, Lê Huy Xuân tình nguyện lên đường nhập ngũ với khát vọng góp sức bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, lần khám tuyển đầu tiên không thành công vì ông chỉ nặng 41 kg, không đáp ứng tiêu chuẩn sức khỏe. Thay vì từ bỏ ước mơ, ông tiếp tục đăng ký vào năm sau. Chính vóc dáng nhỏ bé tưởng như là bất lợi lại trở thành ưu điểm đối với lực lượng đặc công – những chiến sĩ phải bí mật luồn sâu, áp sát mục tiêu trong mọi điều kiện địa hình. Nhờ vậy, ông chính thức trở thành một người lính đặc công.

Sau ba tháng huấn luyện, cuối năm 1964, ông cùng đồng đội vượt Trường Sơn tiến vào chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng. Khi ấy, đơn vị của ông được biên chế vào lực lượng trinh sát đặc nhiệm B12 thuộc Bộ Tư lệnh Công binh. Hơn một trăm người lính trẻ chia thành nhiều hướng hành quân, trong đó ông được phân công đến các địa bàn Điện Bàn, Duy Xuyên và Đại Lộc – những nơi hứng chịu bom đạn ác liệt nhất miền Trung.

Là chiến sĩ đặc công nước, nhiệm vụ của ông và đồng đội là bí mật đánh phá cầu cống, cắt đứt các tuyến giao thông huyết mạch của đối phương. Mỗi trận đánh đều diễn ra trong đêm tối. Các chiến sĩ phải ngâm mình nhiều giờ dưới dòng nước lạnh, lặng lẽ tiếp cận chân cầu để gài thuốc nổ. Chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể khiến cả tổ chiến đấu hy sinh ngay tại chỗ.

Trận đánh đầu tiên mà ông tham gia diễn ra vào tháng 2 năm 1965 tại cầu Cao Lâu trên Quốc lộ 1. Với sự mưu trí và lòng dũng cảm, tổ đặc công đã đánh sập cây cầu, làm tê liệt tuyến vận chuyển quan trọng của đối phương trong nhiều ngày. Sau đó là hàng loạt chiến công khác tại cầu Bình Long, cầu Thượng Đức cùng nhiều mục tiêu quân sự trọng yếu.

Dấu ấn lớn nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông là những trận tập kích xe bọc thép. Các chiến sĩ phải bí mật áp sát từng phương tiện giữa vòng vây dày đặc của đối phương để đặt thuốc nổ. Đây là nhiệm vụ đặc biệt nguy hiểm bởi nếu bị phát hiện, cơ hội sống gần như không còn. Bằng lòng quả cảm và kỹ năng chiến đấu điêu luyện, ông cùng đồng đội đã phá hủy hơn hai mươi xe bọc thép, tiêu diệt gần ba trăm lính đối phương. Có trận đánh, đơn vị phá hủy hơn mười xe bọc thép và loại khỏi vòng chiến hơn một trăm năm mươi quân địch.

Những thành tích ấy đã mang về cho ông nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Chiến công hạng Nhì, hai Huân chương Chiến công hạng Ba cùng nhiều bằng khen, giấy khen. Ông còn được công nhận là Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh và Chiến sĩ thi đua toàn Quân khu 5 trong những năm chiến đấu ác liệt.

Nhưng chiến tranh không chỉ có chiến công mà còn là những mất mát không gì bù đắp được. Đại đội hơn một trăm người của ông khi vượt Trường Sơn vào Nam chỉ còn hơn hai mươi người trở về sau ngày đất nước thống nhất. Nhiều chỉ huy và đồng đội đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường.

Riêng tại quê hương Bà Khê, tám thanh niên cùng lên đường nhập ngũ thì chỉ còn ba người sống sót. Bản thân ông cũng để lại một phần cơ thể nơi chiến trường. Trong một lần cõng đồng đội bị thương rút lui giữa trận càn, ông giẫm phải mìn, mất một phần chân trái và phải trải qua ba lần phẫu thuật cắt cụt do vết thương quá nặng.

Cuối năm 1969, khi được đưa ra miền Bắc điều trị, tai họa vẫn chưa buông tha. Đoàn xe chở thương binh của ông bị máy bay địch ném bom tại Hang Đá (Quảng Bình). Chiếc xe bốc cháy dữ dội, phần lớn thương binh trên xe hy sinh, chỉ còn vài người sống sót, trong đó có ông. Ký ức ấy vẫn luôn là nỗi đau không thể nguôi trong suốt cuộc đời người lính già.

Năm 1971, sau khi xuất ngũ trở về quê hương, dù mang trên mình thương tật, ông vẫn tích cực tham gia công tác địa phương. Hơn ba mươi năm liền, ông làm tổ trưởng tổ tự quản, góp phần giữ gìn an ninh trật tự tại nơi cư trú. Song song với đó, ông chăm chỉ làm ruộng, làm nghề mộc để nuôi gia đình và các con khôn lớn.

Do nhiều giấy tờ chiến tranh bị thất lạc, ông gặp không ít khó khăn trong việc hưởng các chế độ dành cho người có công. Dẫu vậy, ông chưa từng than phiền hay đòi hỏi. Với ông, được sống để trở về quê hương đã là điều may mắn hơn rất nhiều đồng đội đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường.

Khi được hỏi muốn gửi gắm điều gì đến thế hệ trẻ hôm nay, người lính đặc công năm xưa chỉ nhẹ nhàng nhắn nhủ rằng hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng biết bao máu xương của cha anh. Vì vậy, mỗi người trẻ cần biết trân trọng lịch sử, nỗ lực học tập, lao động và cống hiến để xứng đáng với sự hy sinh của những người đi trước. Theo ông, chỉ khi không quên quá khứ, mỗi người mới hiểu hết giá trị của độc lập, tự do và có trách nhiệm gìn giữ những thành quả mà các thế hệ cha anh đã đánh đổi bằng cả tuổi xuân và tính mạng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Kỳ tích của người lính đặc công 41 kg trên tuyến lửa Trường Sơn | Câu chuyện thời hoa lửa