Bài viết

Ký ức

1. Bối cảnh và khởi đầu Gặp gỡ định mệnh: Tại buổi họp mặt cựu chiến binh, người kể chuyện (người làng) gặp một cựu binh Tiểu đoàn 815, biết được sự thật về người thân của Đại đội trưởng (Đại đội trưởng đã hy sinh trong Mậu Thân, có con riêng mà gia đình không biết) và sự trùng hợp lạ kỳ: người cưu mang đứa bé lại chính là ông Thu, người làng tưởng là kẻ phản bội. Nhân vật ông Thu: 98 tuổi, cụt chân, sống cô độc gần sông An Cựu, có vẻ ngoài nghệ sĩ nhưng ẩn chứa nỗi buồn sâu sắc, minh mẫn lạ thư

Quảng Trị18/01/2026Mai Thị Lê Na (Đoàn xã Nam Gianh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ban liên lạc Cựu chiến binh Quân khu Trị - Thiên tổ chức gặp mặt giao lưu nhân kỷ niệm 55 năm cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân Mậu Thân, năm 1968. Bên lề hội nghị, tôi gặp một cựu chiến binh thuộc Tiểu đoàn 815 bộ binh, Trung đoàn 9 anh hùng. Anh cho biết đã tìm được người thân của đồng chí đại đội trưởng của anh trong chiến dịch xuân Mậu Thân tại Huế. Bây giờ anh mới biết người nhà của thủ trưởng mình vẫn chưa biết anh ấy từng có một đứa con. Một đứa con mà suốt sáu chục năm trời không hề biết cha mẹ ruột của mình là ai. Và điều đặc biệt hơn là sự trùng hợp ngẫu nhiên đến lạ lùng. Người nuôi con cho chiến sĩ giải phóng quân đó lại chính là ông Thu, người mà bao năm nay dân làng tôi cho là kẻ phản bội đi theo giặc. Cái án theo giặc đã bôi đen lý lịch ông đến cuối cuộc đời đến nỗi ông chẳng dám về quê.

*

* *

Nhà ông Thu ở gần cầu Kho Rèn, bên dòng sông An Cựu. Ông Thu bây giờ đã 98 tuổi, cái tuổi gần đất xa trời. Ông đi bằng đôi chân giả. Đôi chân của ông đã bị mảnh bom tiện mất từ đầu gối xuống. Ông ngồi trên chiếc xe lăn ra mở cổng đón chúng tôi. Mặc dù bị cụt mất đôi chân nhưng nhìn mái tóc ông ra dáng nghệ sĩ lắm. Cái đầu đã bạc trắng, hai mái tóc dài trắng như cước tràn qua thái dương phủ xuống bờ vai. Phía trước tóc ông đã rụng hết để lại cái trán hói láng bóng. Kể ra những người sống đến cái tuổi này mà còn tinh tường minh mẫn như thế là rất hiếm. Đa số họ đều mụ mị, quên ngược, quên xuôi cả rồi.

Biết tôi là người làng, ông Thu kể giọng đều đều pha một chút ngậm ngùi. Trong đôi mắt ông vẫn phảng phất nỗi buồn hoang vắng khi nhớ về một thời quá vãng.

Trước cách mạng tháng Tám ông đã từng bị giặc Pháp bắt giam ở Hỏa Lò. Trong những ngày sục sôi của tổng khởi nghĩa, ông đã cùng đồng đội vượt ngục trở về. Phe đồng minh giải giáp quân đội Nhật, ông về làng tham gia xây dựng chính quyền non trẻ ở quê hương. Giặc Pháp quay lại gây hấn ở Nam Bộ, ông cùng với ông Vơn, người làng tôi gia nhập chi đội Lê Trực ở Quảng Bình. Tháng 3 năm 1947, giặc Pháp đổ bộ vào cửa sông Nhật Lệ và sông Gianh. Chúng tập trung hơn 500 quân tiến đánh các xã phía tây huyện Bố Trạch. Đây là một huyện bán sơn địa có nhiều xã miền núi và vùng gò đồi, trung du. Quyết tâm của địch là phải đè bẹp sự kháng cự của du kích làng Cự Nẫm để dựng được hệ thống hội tề dọc tuyến sông Son. Truông Mòn là cửa ngõ lý tưởng của địch đổ bộ vào làng theo hướng từ dưới sông lên.

Trung đội trưởng của ông Thu đã cử ông với ông Trần Vơn đi trinh sát các cánh quân của địch để đặt bom, gài mìn. Mỗi người mang theo hai trái mìn với một cuộn dây thừng. Gài xong, họ men theo bãi ngô ven bờ sông xanh mướt từ Khương Hà đi lên Bùng Lai. Cánh đồng bạt ngàn ngô ở đây đến thời kỳ phun râu thoang thoảng thơm nồng hương phấn đang độ chín. Những lá ngô cọ vào nhau nghe lào rào khi có một ngọn gió thoảng qua. Khi nào phát hiện địch càn vào làng Cự Nẫm thì hai người sẽ bí mật chạy theo vạt ngô này về rừng Truông Mòn để giật bom. Tiếng bom nổ cũng sẽ báo hiệu cho du kích chuẩn bị chống càn.

Quá trưa hai người ngồi xuống bên đám đất hoang giở cơm nắm ra ăn. Ăn xong họ xách ống lồ ô xuống sông lấy nước uống. Thủy triều ở sông Son cứ nửa tháng đầu lên xuống mỗi ngày một lần, nửa tháng sau lại lên xuống mỗi ngày hai lần mang theo con nước lớn ròng. Nước phía dưới gần cửa biển thì mặn chát nhưng từ chợ Khương Hà lên phía trên động Phong Nha hoàn toàn nước ngọt. Ngọt nhất là khi con nước ròng.

Bỗng trong ruộng ngô gần đó có tiếng sột soạt. Một toán lính Pháp hùng hổ xông ra. Đi đầu là tên quan một, râu ria xồm xoàm. Ông Thu nhận ra có một tên Việt gian là người trong làng. Thằng này biết nói tiếng Tây. Hắn có dáng người nhỏ thó, nhăn hàm răng trắng nhởn như con chuột nhắt ra cười với ông. Chỉ có hắn mới chỉ điểm cho bọn Pháp phục kích đúng vị trí đặc biệt này. Bọn Pháp trói nghiến cả hai người lại. Thằng râu xồm hỏi: “Dans quelle mission êtes-vous les gars ?”. Tên Việt gian dịch đúng nguyên văn: “Các bạn đang thực hiện nhiệm vụ gì?”. Hai người vẫn im lặng không nói.

Thằng Việt gian quát: “Nói!”. Ông Vơn vẫn đứng nhìn hắn trân trân. Thằng râu xồm chĩa khẩu súng lục vào trán ông Vơn. Một tiếng súng nổ. Ông Vơn ngã vật xuống bãi cỏ. Hắn sai người chặt đầu ông Vơn xách lên cắm trên mố cầu Bùng.

Thằng Việt gian chỉ vào cái đầu của ông Vơn và nói với ông Thu: “Mày thấy đó. Mày mà ngoan cố như thằng Vơn thì quan lớn cũng sẽ bêu đầu mày ở đây thôi”.

Nghe thấy thế ông Thu làm bộ sợ hãi, tái mặt quỳ sụp xuống trước mặt tên quan một, giọng van lơn: “Ở trên rừng khổ quá. Việt Minh đã đói lại bị sốt rét liên miên không có thuốc kí ninh để uống. Đa số bị chết dần chết mòn, chúng tôi đi về xin hàng các quan Tây. Chúng tôi xin hồi chánh”.

“Thế mày hãy dẫn quan lớn đi vào làng Cự Nẫm. Nhưng mày phải đi trước để tránh dẫm trúng bom mìn của bọn Việt Minh làm chết quan Tây. Mày mà chạy, các quan sẽ bắn nát đầu, không tha cho mày đâu”.

Ông Thu đi trước dẫn bọn địch qua con đường có quả bom do ông Vơn cài. Bọn Pháp vẫn giữ một khoảng cách khá xa đối với ông Thu để đề phòng bất trắc. Khi chúng đi đến vị trí đặt bom, ông cúi xuống nắm lấy sợi dây giật mạnh nhưng quả bom không nổ. Hình như kíp nổ đã bị tịt ngòi. Thấy ông Thu cúi xuống, thằng râu xồm giục tên Việt gian đuổi theo bám sát. Hắn sợ ông Thu lẩn trốn.

Lại đến một đường mòn có quả bom do chính tay ông Thu cài. Ông dừng lại. Sợi dây ông buộc chặt vào một cành cây luồn dưới lớp cỏ tranh ngụy trang rất khéo chăng qua đường. Chờ cho chúng đến gần, ông đá mạnh vào sợi dây. Một tiếng nổ long trời lở đất. Bọn địch la oai oái. Thằng Việt gian bị chết ngay tại trận, hai thằng Pháp bị thương. Riêng ông Thu thì bị bay mất hai cẳng chân. Thằng quan một, râu xồm ra lệnh cáng ông Thu và hai thằng bị thương xuống ca nô chở vào chữa trị trong Đồng Hới. Ông Thu được “chính phủ Quốc gia” cấp cho cái “Bảo quốc Huân chương”. Thằng chỉ huy nói nhờ ông Thu mà hắn thoát chết.

*

* *

Sau hiệp định Giơ-ne- vơ những người đi theo kháng chiến tập kết ra miền Bắc, những người theo quân đội Liên hiệp Pháp vào Nam. Ông Thu được đi theo quân đội Pháp vào định cư tại Huế. Ông hòa lẩn vào dòng người di cư theo chúa. Người Pháp đã trợ cấp tiền thương tật hàng tháng cho ông.

“Có tiền lương trợ cấp thương tật hàng tháng của quân đội Liên hiệp Pháp, tôi mua được hai chục chiếc xe xích lô các anh ạ! Hàng ngày tôi có một đội quân đạp xe thồ với tiền cho thuê xe nên chỉ việc ngồi chơi xơi nước. Họ cũng là những người dân Quảng Bình đi theo Chúa vào Nam. Sau hiệp định Giơ-ne- vơ, chính quyền Ngô Đình Diệm khuyến khích những người công giáo ngoài miền Bắc vô Nam nên công việc làm ăn của tôi tại Huế cũng thuận lợi, chẳng bị chính quyền o ép, gây khó dễ gì. Những người cùng đi họ cũng nể trọng tôi lắm. Mang danh là một thương binh của Pháp nên bọn lính cũng không dám quấy nhiễu. Nhiều người đi đạo Phật đã ngã sang hàng ngũ công giáo, chế độ Ngô Đình Diệm. Ngô Đình Thục, anh trai Diệm lúc đó là Tổng Giám mục cai quản cả miền Nam. Những người đằng mình ai cũng nói tôi là kẻ phản bội nên tìm cách xa lánh. Tôi đau lắm. Chẳng có ai làm chứng, chẳng ai minh oan được cho mình. Rồi năm 1963, lính của Ngô Đình Diệm đàn áp xả súng vào đoàn người biểu tình trong ngày lễ Phật đản. Có một thiếu phụ bế đứa con còn đỏ hỏn ngồi trên xích lô đến nhà tôi. Cô xin lánh tạm một vài ngày. Cô nói cô là một phật tử ngoài Quảng Trị vô dự lễ mà kẹt đường về. Ngoài đường những đoàn người biểu tình đã tuần hành quanh khu phố cổ Huế hô vang các khẩu hiệu chống Diệm. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ban bố lệnh thiết quân luật và đặt quân đội vào tình trạng báo động “ngăn chặn sự xâm nhập của Việt cộng”.

Hai hôm sau cô gái đột nhiên biến mất để lại đứa con nhỏ cho tôi. Cô đi đâu không rõ. Trên cổ đứa trẻ có đeo một sợi dây mang tượng đức Phật Thích Ca bằng đồng nho nhỏ. Tôi cũng không biết tên cô ta là gì. Tiến thoái lưỡng nan. Bình thường một người chân tay lành lặn chăm sóc một đứa trẻ sơ sinh đã khó huống hồ tôi, người phải đi bằng hai chân giả. Nhưng tôi linh cảm cô gái ấy là người đằng mình. Nếu là một phật tử có đứa con đã lỡ làng thì cô ta có thể gửi lại nơi cửa Phật. Ở Huế có nhiều ngôi chùa mà. Mình không giúp được gì cho cách mạng thì đây là một cơ hội. Trong nhà tôi có thuê một phụ nữ giúp việc lo cơm nước, giặt giũ quần áo và dọn dẹp nhà cửa. Hơn nữa sau khi ra tù, về làng là tôi đi kháng chiến liền nên cũng chưa kịp vợ con gì. Bí quá tôi phải nhờ người làm công chăm sóc đứa bé. Bà ấy chính là vợ của tôi bây giờ”.

Ông Thu dừng lại lấy chiếc khăn tay vắt trên thành xe lăn chấm nước mắt, giọng ngậm ngùi: “Suốt đời tôi biết ơn bà ấy lắm các anh ạ. Không có bà ấy thì tôi chẳng còn sống được đến bây giờ”.

Tôi chưa bao giờ thấy một ông già gần trăm tuổi khóc nên cũng mũi lòng. “Năm đó chế độ Đệ Nhất Cộng hòa sụp đổ. Hai anh em Diệm, Nhu bị giết chết. Đến năm 1964, Ngô Đình Cẩn, bạo chúa miền Trung cũng bị chính quyền Đệ Nhị Cộng hòa xử tử. Nhà ông ta bên kia sông An Cựu, phía trên nhà thờ Phú Cam. Các anh vào đây đến tham quan khu di tích chín hầm một tí cho biết. Đó là địa ngục trần gian mà Ngô Đình Cẩn đã tạo ra. Cũng là người Quảng Bình ta cả nhưng

các ông ấy đi sai đường, lạc lối”.

*

* *

Trong sâu thẳm của cuộc đời, ông Thu cứ dằn vặt, day dứt mãi. Ông ước ao có một lần gặp lại người chỉ huy cũ để nói cho đồng đội hiểu. Tấm lòng của ông vẫn hướng về cách mạng thật là trinh bạch, trong sáng, vẫn vằng vặc như ánh sao khuê. Ông vẫn tuyệt đối trung thành với cách mạng, với Cụ Hồ. Nhưng cái thế của ông như con cá bị mắc kẹt ở trong lờ. Biết làm gì đối với con người khi đã bị cụt mất hai chân. Ông chặc lưỡi: “Thôi thì phóng lao phải theo lao”. Ông đã trót ăn tiền lương hưu của chính phủ Pháp rồi. Suốt cuộc đời ông đã không làm gì tổn hại cho cách mạng cả. Có lúc ông ước ao mình được chết đi như ông Vơn sau tiếng bom nổ trên Truông Mòn năm ấy. Vào đây chiều chiều đi xe lăn ra cầu Tràng Tiền ngắm cảnh hoàng hôn trên dòng sông Hương tĩnh lặng ông lại thẩn thờ nhớ con sông Gianh quê ông da diết. Đời người như một dòng sông cứ trôi miên man ngày này qua tháng khác. Ông nhìn mãi xuống dòng sông. Dòng sông của chiến tranh thật là khủng khiếp. Người bên này, bên kia, giành giật, bắn giết lẫn nhau, máu chảy, đầu rơi, bao phận người đã ngã xuống vì nó. Sông ơi! Ngay trên mảnh đất miền Trung eo thắt như cái cổ chày này đã có biết bao hòn vọng phu, hóa đá chờ chồng, có bao người con chờ cha, gia đình li tán. Cái án là kẻ phản bội đeo đẳng trong suốt cuộc đời ông Thu. Cái con người cứng rắn, mạnh mẽ như ông bây giờ cũng trở nên yếu đuối. Ông cũng không biết tự bao giờ ông trở nên con người đa sầu đa cảm. Có lẽ những năm tháng cô đơn sống nơi đất khách quê người đã làm ông trở nên mong manh dễ vỡ.

*

* *

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn