Ký ức chiến đấu của Anh hùng Đoàn Văn Thái
“Nắm thắt lưng địch mà đánh” – đó không chỉ là một khẩu lệnh chiến đấu trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, mà còn là biểu tượng cho tinh thần quả cảm, mưu trí và ý chí quyết thắng của người lính cách mạng Việt Nam. Trong lớp lớp những người con ưu tú của dân tộc đã hiến dâng trọn tuổi thanh xuân cho Tổ quốc, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đoàn Văn Thái là tấm gương tiêu biểu cho một thời “hoa lửa” không thể nào quên.
“Nắm thắt lưng địch mà đánh” – đó không chỉ là một khẩu lệnh chiến đấu trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, mà còn là biểu tượng cho tinh thần quả cảm, mưu trí và ý chí quyết thắng của người lính cách mạng Việt Nam. Trong lớp lớp những người con ưu tú của dân tộc đã hiến dâng trọn tuổi thanh xuân cho Tổ quốc, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đoàn Văn Thái là tấm gương tiêu biểu cho một thời “hoa lửa” không thể nào quên.
Theo biên niên sử Bộ đội Biên phòng, đồng chí Đoàn Văn Thái sinh năm 1948, quê quán tại xã Long Nguyên, huyện Bến Cát, tỉnh Thủ Dầu Một (cũ). Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, sớm được gia đình và cán bộ địa phương giáo dục, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, đồng chí nhanh chóng giác ngộ cách mạng, nuôi dưỡng trong mình lý tưởng chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc.
Năm 16 tuổi, đồng chí tham gia lực lượng dân quân địa phương, trực tiếp cầm súng chiến đấu bảo vệ quê hương. Đến năm 17 tuổi, đồng chí chính thức nhập ngũ, bước vào quân đội và nhanh chóng trưởng thành qua thực tiễn chiến đấu. Trong suốt quá trình tham gia 51 trận đánh lớn nhỏ, đồng chí luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đặc biệt tại các trận đánh ở khu vực Quỹ Hiệp – Lai Khê (cũ), đồng chí đã tiêu diệt 2 tên địch, bắt sống 3 tên, thu giữ 3 khẩu súng. Phong cách chiến đấu của đồng chí được đồng đội ghi nhận bằng chính khẩu hiệu nổi tiếng: “Nắm thắt lưng địch mà đánh” – đánh gần, đánh hiểm, đánh táo bạo, chủ động tiến công và kiên quyết tiêu diệt địch.
Giữa những năm tháng chiến tranh khốc liệt, đồng chí đã chứng kiến biết bao mất mát, hy sinh của đồng đội. Nhiều người bạn chiến đấu thân thiết – những chàng trai tuổi đời còn rất trẻ, chưa kịp sống trọn vẹn tuổi thanh xuân – đã ngã xuống ngay bên cạnh đồng chí. Có lần, trong một trận đánh ác liệt, khi súng đã cạn đạn, đồng chí gọi người bạn tên Quỳnh đến tiếp đạn thì người bạn ấy trúng đạn và anh dũng hy sinh ngay trước mắt. Những mất mát ấy trở thành nỗi đau khắc sâu trong tim, đồng thời hun đúc thêm ý chí chiến đấu kiên cường của người lính trẻ.
Một trong những trận đánh để lại dấu ấn sâu đậm trong ký ức đồng chí là trận Sở Gà – Tân An, Tương Bình Hiệp (cũ). Do kế hoạch tác chiến bị lộ, đơn vị buộc phải rút về khu vực Cây Dương, rừng Xóm Ruộng, Mỹ Phước (cũ) để ẩn trú suốt nhiều ngày. Đêm thứ ba, địch tổ chức truy kích quy mô lớn, đồng chí bị thương nặng do bom M79, mảnh bom xuyên phổi, tưởng chừng đã hy sinh. Trong cơn mê man, đồng chí được cơ sở cách mạng cứu giúp, che giấu và tận tình chăm sóc. Khi vết thương chưa lành hẳn, đồng chí vẫn kiên quyết tìm về đơn vị, tiếp tục cầm súng chiến đấu.
Trong suốt quá trình tham gia kháng chiến, đồng chí trực tiếp tham gia 19 trận đánh lớn, lập nhiều chiến công xuất sắc. Tại trận Cống Bình, thị xã Bình Dương (cũ), đồng chí chỉ huy mũi tiến công chủ lực, vượt qua nhiều tuyến phòng thủ kiên cố của địch, đánh thẳng vào sở chỉ huy, góp phần quan trọng làm rối loạn đội hình, tạo điều kiện cho toàn đơn vị tiêu diệt địch.
Trong đợt 2 tiến công vào thành phố Sài Gòn (cũ), đơn vị của đồng chí thọc sâu vào nội đô, trụ lại giữa lòng địch gần nửa tháng. Sau đó, đơn vị bị chia cắt, bao vây tại khu vực Thủ Đức (cũ) suốt 16 ngày đêm, trong điều kiện vô cùng gian khổ. Dù vừa chiến đấu, vừa cơ động tránh bom đạn ác liệt, đồng chí và đồng đội vẫn kiên cường bám trụ, từng bước phá vỡ vòng vây của địch.
Đặc biệt trong trận đánh đồn Cua Paris (tháng 11/1968), đồng chí trực tiếp tham gia mũi tiến công chủ lực, tiêu diệt 4 xe tăng, làm tê liệt hoàn toàn hệ thống phòng thủ của địch, đồng thời cứu sống nhiều đồng đội đang bị pháo kích. Sau chiến thắng này, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Đại đội trưởng Đại đội 3, tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.
Ngày 20/12/1969, tại Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc, đồng chí Đoàn Văn Thái vinh dự được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Sau ngày đất nước thống nhất, đồng chí tiếp tục công tác trong lực lượng Bộ đội Biên phòng. Khi tỉnh Sông Bé (cũ) được thành lập vào năm 1986, đồng chí được điều động về công tác tại Bộ đội Biên phòng Sông Bé (cũ), sau này là Bộ đội Biên phòng tỉnh Bình Phước, cùng đồng đội bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, góp phần xây dựng cuộc sống bình yên cho nhân dân vùng biên.
Cuộc đời và sự nghiệp của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đoàn Văn Thái là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của tinh thần dấn thân, cống hiến trọn đời vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Dẫu chiến tranh đã lùi xa, nhưng tấm gương chiến đấu kiên cường, bất khuất của ông vẫn mãi là nguồn cảm hứng, giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ hôm nay và mai sau.



