KÝ ỨC CHIẾN TRANH TỪ ĐAU THƯƠNG ĐẾN NIỀM TIN CHIẾN THẮNG
Những năm tháng chiến tranh đã lùi xa, nhưng âm vang của một thời “hoa lửa” vẫn còn ngân vọng trong ký ức của dân tộc Việt Nam. Đó là những năm tháng mà biết bao người con ưu tú đã rời mái nhà thân yêu, gác lại tuổi trẻ để bước vào chiến trường khốc liệt, chiến đấu vì độc lập và tự do của Tổ quốc. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chiến trường Tây Nguyên – mảnh đất đỏ bazan hùng vĩ – đã ghi dấu biết bao chiến công và sự hi sinh thầm lặng của những người lính. May mắn cho thế hệ hôm nay, vẫn còn những nhân chứng sống của thời hoa lửa ấy.

KÝ ỨC CHIẾN TRANH TỪ ĐAU THƯƠNG ĐẾN NIỀM TIN
CHIẾN THẮNG
“Có những người lính đã để lại sức khỏe, tuổi thanh xuân cho tổ quốc và đó là những ký ức còn mãi theo thời gian”
Những năm tháng chiến tranh đã lùi xa, nhưng âm vang của một thời “hoa lửa” vẫn còn ngân vọng trong ký ức của dân tộc Việt Nam. Đó là những năm tháng mà biết bao người con ưu tú đã rời mái nhà thân yêu, gác lại tuổi trẻ để bước vào chiến trường khốc liệt, chiến đấu vì độc lập và tự do của Tổ quốc. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chiến trường Tây Nguyên – mảnh đất đỏ bazan hùng vĩ – đã ghi dấu biết bao chiến công và sự hi sinh thầm lặng của những người lính. May mắn cho thế hệ hôm nay, vẫn còn những nhân chứng sống của thời hoa lửa ấy. Một trong số đó là ông Nguyễn Văn Trực, người đã từng trực tiếp chiến đấu trên chiến trường Tây Nguyên năm xưa. Câu chuyện cuộc đời và những năm tháng chiến đấu của bác không chỉ là ký ức cá nhân, mà còn là một phần lịch sử sống động, giúp chúng ta hiểu hơn về giá trị của hòa bình hôm nay.
Người lính mà tôi muốn kể trong câu chuyện về “một thời hoa lửa” là bác Nguyễn Văn Trực, sinh năm 1946, quê ở thôn Vài, xã Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Năm 1970, khi đất nước còn đang chìm trong khói lửa chiến tranh, chàng thanh niên Nguyễn Văn Trực khi ấy mới ngoài đôi mươi đã tình nguyện lên đường nhập ngũ, mang theo trong tim tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc và lòng yêu nước nồng nhiệt của tuổi trẻ. Bác được biên chế vào đơn vị C6, D5, E52 sư đoàn 320A thuộc mặt trận Tây Nguyên – một chiến trường khốc liệt, nơi bom đạn kẻ thù trút xuống ngày đêm. Suốt những năm tháng chiến đấu gian khổ giữa núi rừng Tây Nguyên, bác cùng đồng đội đã kiên cường vượt qua biết bao hiểm nguy, góp phần vào cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc. Sau nhiều năm phục vụ trong quân ngũ, đến năm 1978 bác xuất ngũ trở về quê hương. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những dấu tích của nó vẫn còn in đậm trong cuộc đời người lính năm xưa. Hiện nay, bác Nguyễn Văn Trực là bệnh binh hạng 2 tỉ lệ 35%. Dẫu vậy, ở bác vẫn luôn toát lên phẩm chất kiên cường, giản dị và nghị lực của một người lính đã từng đi qua “một thời hoa lửa” của dân tộc.
Năm nay, vợ chồng bác cũng đã sấp xỉ 80 tuổi và sống cùng với con cháu rất hạnh phúc. Mỗi khi được tôi nhắc lại chuyện chiến đấu bác dù có ốm mệt đến mấy thì vẫn hào hứng kể. Tôi hỏi bác: Sao đã mấy chục năm qua rồi mà bác vẫn nhớ mọi chuyện, thậm chí còn đọc được cả những bài thơ dài đến vậy? Bác bảo: “Đó là kí ức một thời rồi, nó đặc biệt lắm, không thể quên được!” Trong câu chuyện về những năm tháng chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên, bác Nguyễn Văn Trực vẫn nhớ như in một kỷ niệm mà mỗi lần nhắc lại, giọng bác chậm lại như đang sống lại những ngày bom đạn năm xưa. Đó là những ngày đơn vị của bác hành quân sâu trong rừng để làm nhiệm vụ. Núi rừng Tây Nguyên khi ấy vừa hùng vĩ vừa khắc nghiệt: những cơn mưa rừng bất chợt, những con dốc trơn trượt và tiếng máy bay địch quần thảo trên bầu trời. Trong một lần làm nhiệm vụ, đơn vị bất ngờ bị máy bay địch phát hiện và ném bom dữ dội. Đất đá tung lên mù mịt, tiếng nổ dội vào vách núi khiến cả cánh rừng rung chuyển. Giữa làn bom đạn ấy, bác Thông cùng đồng đội vẫn kiên cường bám trận địa, vừa tìm cách tránh bom vừa hỗ trợ nhau di chuyển đến nơi an toàn. Có những trận đánh quân địch rải bom từ mười giờ sáng hôm nay đến mười hai giờ trưa hôm sau mới dứt. Họ bị cô lập, bao vây có đợt tới hai, ba ngày, lương thực mang theo dần cạn kiệt. Họ đói và khát. Có những người đồng đội đã bị thương, nhưng không ai bỏ lại ai phía sau. Họ dìu nhau đi qua từng quãng rừng, chia nhau từng ngụm nước, từng nắm lương khô ít ỏi. Chính trong những khoảnh khắc sinh tử ấy, tình đồng chí, đồng đội trở nên thiêng liêng hơn bao giờ hết. Với bác Trực, ký ức về những ngày tháng gian khổ nhưng đầy nghĩa tình nơi chiến trường Tây Nguyên mãi mãi là một phần không thể quên của cuộc đời người lính.
Trong ký ức của bác Nguyễn Văn Trực, điều khiến bác day dứt và xúc động nhất không chỉ là những trận bom ác liệt, mà còn là sự hi sinh của những người đồng đội thân thiết. Bác kể rằng có một lần đơn vị đang làm nhiệm vụ giữa rừng sâu Tây Nguyên thì bất ngờ bị địch tập kích dữ dội. Bom đạn trút xuống liên hồi, khói lửa phủ kín cả cánh rừng. Trong lúc tìm cách rút lui để bảo toàn lực lượng, một người đồng đội của bác đã trúng bom và bị thương rất nặng. Dù bản thân cũng đang ở giữa lằn ranh sinh tử, bác vẫn cố gắng động viên mọi người tiếp tục di chuyển để tránh đợt oanh kích tiếp theo. Những lời nói dặn dò vội vã giữa tiếng bom như khắc sâu vào tâm trí của những người còn sống. Người đồng đội ấy đã nằm lại giữa núi rừng Tây Nguyên khi tuổi đời còn rất trẻ, để lại phía sau bao ước mơ chưa kịp thực hiện. Mỗi lần nhắc đến khoảnh khắc ấy, ánh mắt bác Trực lại trầm xuống. Bác nói rằng chiến tranh đã qua đi, nhưng hình ảnh những người đồng đội đã ngã xuống vì độc lập của Tổ quốc thì sẽ mãi mãi không bao giờ phai nhạt trong trái tim của những người lính còn sống. Bác kể, có những khi kết thúc một trận đánh tự tay bác và đồng đội phải tranh thủ đi lượm xác đồng đội. Nơi núi rừng đất đá họ chỉ kịp khơi cái huyệt sâu tầm năm sáu mươi phân rồi đặt tạm xác đồng đội xuống. Trước khi chôn đồng đội họ không quên ghi vội những thông tin ngắn ngủi nhưng quan trọng của mỗi người như: Nguyễn Văn A, sinh năm, hi sinh ngày tháng năm, quê quán, đơn vị…vào một mẩu giấy bọc rất nhiều lớp nilông, rồi cho vào lọ penixilin, cẩn thận quấn thêm nhiều lớp nilông nữa để bảo vệ lọ penixilin đó, rồi tất cả đặt vào túi áo ngực người lính rồi đem chôn cùng. Sau đó họ bắn ba phát đạn như để tiễn biệt người đồng đội thân yêu, rồi họ lại tiếp tục lên đường chiến đấu. Chính sự hi sinh thầm lặng ấy đã góp phần làm nên hòa bình cho đất nước hôm nay.
Những cuộc hành quân qua dãy Trường Sơn cũng là ký ức vừa gian khổ vừa đáng nhớ đối với bác Thông. Hành trình cuộc chiến đấu của bác bắt đầu kéo dài với những bước chân đi bộ từ quê hương Hà Nội vào chiến trường Quan Hóa, Bá Thước của Thanh Hóa, tiến dần vào Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, lên Tây Nguyên rồi qua đất bạn Lào. Có những ngày đơn vị phải đi bộ hàng chục cây số qua những con đường rừng dốc đứng, trơn trượt vì mưa. Mưa rừng Tây Nguyên xối xả, nước từ trên tán lá đổ xuống như thác, quần áo ướt sũng nhưng đoàn quân vẫn lặng lẽ tiến bước. Ba lô nặng trên vai, dắt quanh người nào là chiếc bi đông nước (mà khi cần có thể trở thành chiếc ấm đun nước), rất nhiều các loại lựu đạn, rồi súng, đạn, năm cân lương khô…luôn sẵn sàng. Từng bước chân phải thật cẩn thận để tránh trượt ngã hay lộ vị trí trước máy bay trinh sát của địch. Ban đêm, cả đơn vị tranh thủ nghỉ dưới những tán cây rừng, nghe tiếng côn trùng rả rích và tiếng gió thổi qua đại ngàn. Dù mệt mỏi và lo lắng, nhưng ai cũng động viên nhau cố gắng vượt qua, bởi phía trước là nhiệm vụ và niềm tin vào ngày chiến thắng.
Chiến trường Tây Nguyên không chỉ khốc liệt vì bom đạn mà còn bởi những thiếu thốn vô cùng. Bác Trực nhớ lại có những giai đoạn đơn vị phải sống trong tình trạng lương thực cạn dần, mỗi người chỉ được chia vài nắm gạo hoặc một ít lương khô cho cả ngày dài. Một bữa cơm có khi chỉ là một miếng cơm vo tròn lại bằng quả trứng gà. Nhiều hôm, các bác phải hái rau rừng mà chủ yếu là rau tàu bay, đào củ măng rừng để cải thiện bữa ăn. Nước không được uống mà để dành để rửa những cây nấm mối trắng để ăn vì loại nấm này có rất nhiều cát. Thuốc men cũng rất khan hiếm; khi có người bị sốt rét hay bị thương, đồng đội chỉ biết tận tình chăm sóc, chia nhau từng viên thuốc ít ỏi. Hoặc có khi được tiêm kí ninh thì khiến chân tay đau đến co quắp lại và không đi được. Giữa núi rừng ẩm ướt, bệnh tật và đói rét luôn rình rập, nhưng ý chí của những người lính trẻ vẫn không hề suy giảm. Họ hiểu rằng mọi gian khổ ấy đều là cái giá phải trả cho độc lập của Tổ quốc.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Có lẽ điều khiến bác Trực nhớ nhất về những năm tháng chiến tranh chính là tình đồng chí, đồng đội sâu nặng. Trong hoàn cảnh bom đạn và thiếu thốn, những người lính coi nhau như anh em ruột thịt. Khi hành quân, người đi trước sẵn sàng quay lại đỡ người phía sau qua những con dốc trơn trượt. Khi nghỉ chân, họ chia nhau từng ngụm nước, từng miếng lương khô ít ỏi. Có người bị ốm hay bị thương, cả đơn vị cùng nhau chăm sóc, động viên để đồng đội sớm vượt qua. Chính tình cảm chân thành ấy đã giúp những người lính trẻ thêm vững vàng giữa chiến trường khốc liệt. Đối với bác Trực, tình đồng đội trong những năm tháng “một thời hoa lửa” ấy là kỷ niệm thiêng liêng mà suốt cuộc đời bác không bao giờ quên.
Khi được nghe bác Nguyễn Văn Trực kể lại những năm tháng chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên, tôi không khỏi xúc động và khâm phục. Những câu chuyện về những trận bom dữ dội, những cuộc hành quân xuyên rừng Trường Sơn, những ngày thiếu thốn lương thực, thuốc men và cả sự hi sinh của đồng đội đã giúp tôi hiểu rõ hơn giá trị của hòa bình hôm nay. Nhìn bác – một người lính năm xưa nay đã mang trên mình thương tật của chiến tranh, là bệnh binh hạng 2 và nạn nhân của chất độc da cam – tôi càng cảm nhận sâu sắc rằng độc lập, tự do của Tổ quốc đã phải đánh đổi bằng biết bao máu xương và tuổi xuân của thế hệ cha anh. Những câu chuyện của bác không chỉ là ký ức về chiến tranh mà còn là bài học quý giá về lòng yêu nước, về ý chí kiên cường và tinh thần trách nhiệm đối với Tổ quốc. Là thế hệ trẻ sinh ra trong hòa bình, tôi càng thấy mình phải sống có trách nhiệm hơn, phải cố gắng học tập, rèn luyện và cống hiến để xứng đáng với những hi sinh lớn lao của những người lính như bác Nguyễn Văn Trực – những con người đã đi qua một thời hoa lửa để đổi lấy mùa xuân hòa bình cho đất nước hôm nay.
Mặc dù sau hòa bình, những chính sách chăm sóc sức khỏe, cuộc sống tinh thần và vật chất cho những người có công với cách mạng, với những gia đình chính sách của Nhà nước có rất nhiều ưu đãi nhưng những người lính hôm nay như bác Trực vẫn đang phải đối diện với một cuộc sống rất khó khăn: trở trời lại bị vết thương hành hạ, về già nhưng không có con cái chăm lo, tiền lương theo chế độ chính sách không đủ để mua thuốc, đi viện. Có thể nói câu chuyện và cuộc đời của bác Trực khiến chúng ta hôm nay thấy chiến tranh sao mà đáng sợ, hậu quả của nó thật ghê gớm dù thời gian đã phai phôi. Đằng sau sự xót xa ấy, tuổi trẻ hôm nay vẫn luôn thấy tự hào về thế hệ cha chú. Từ đó mà nhắc nhở bản thân không quên trách nhiệm tương lai của mình.



