KÝ ỨC CHỐT TÀU Ô CỦA NGƯỜI CỰU CHIẾN BINH NGUYỄN VĂN BẢY
Trong không khí trang nghiêm của những ngày tháng lịch sử, tôi có cơ hội được ngồi trò chuyện cùng ông Nguyễn Văn Bảy, một người con ưu tú của mảnh đất Chơn Thành anh hùng. Dù mái tóc đã bạc phơ và vết thương cũ mỗi khi trái gió trở trời lại đau nhức, nhưng khi nhắc về một thời hoa lửa, ánh mắt ông vẫn sáng rực lên niềm tự hào. Ông kể cho tôi nghe về những ngày tháng gian khổ nhưng oanh liệt tại "chốt thép" Tàu Ô năm 1972 – nơi đã trở thành nỗi khiếp sợ của kẻ thù và là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Mùa hè năm 1972, Chiến dịch Nguyễn Huệ nổ ra với quy mô lớn trên toàn chiến trường miền Nam. Lúc bấy giờ, chàng thanh niên Nguyễn Văn Bảy vừa tròn mười tám đôi mươi, tràn đầy nhiệt huyết cách mạng, là chiến sĩ của Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 141 (Sư đoàn 7). Sau khi quân ta giải phóng hoàn toàn huyện Lộc Ninh vào ngày 7/4/1972, Lộc Ninh trở thành thủ phủ, trung tâm đầu não của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Nhằm cứu vãn tình thế và giải vây cho thị xã An Lộc đang bị ta bao vây cô lập, Mỹ - Ngụy đã điên cuồng tập trung một lực lượng binh hỏa lực khổng lồ, quyết tâm khai thông tuyến giao thông huyết mạch Quốc lộ 13. Nhận rõ ý đồ của địch, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 7 phải bằng mọi giá xây dựng một chốt chặn vững chắc, "nội bất xuất, ngoại bất nhập" trên Quốc lộ 13, đoạn qua Tàu Ô (Bình Long).
Ông Bảy bồi hồi nhớ lại: “Ngày nhận lệnh, chỉ huy Trung đoàn nhìn thẳng vào mắt chúng tôi và nói: 'Giữ được Tàu Ô là giữ được Lộc Ninh, giữ được thành quả cách mạng. Các đồng chí có quyết tâm không?'. Tất cả chúng tôi đồng thanh hô lớn: 'Quyết tâm!'. Chúng tôi hiểu rằng, phía sau lưng mình là vận mệnh của cả chiến dịch”.
Chốt chặn Tàu Ô thực chất chỉ là một đoạn đường dài vài trăm mét cắt ngang Quốc lộ 13, xung quanh chủ yếu là rẫy cao su và những trảng bụi rậm. Tuy nhiên, địa thế này lại mang tính chiến lược quân sự cốt tử. Để đối phó với sức mạnh không quân và pháo binh vượt trội của địch, ông Bảy cùng các đồng đội đã ngày đêm đào công sự. Hệ thống hầm chữ A, giao thông hào xẻ dọc, xẻ ngang mặt đường được ngụy trang kỹ lưỡng bằng những thân cây cao su ngã đổ.
Địch bắt đầu điên cuồng dội bom mở đường. Ông Bảy kể, không một giờ phút nào tiếng bom pháo ngừng gầm rú. Máy bay B-52 của Mỹ rải thảm liên tục, pháo từ các căn cứ xung quanh bắn tới tấp khiến mặt đất Tàu Ô bị cày xới, khói bụi mù mịt, cây cối tan hoang không còn một chiếc lá. Lớp đất đỏ bazan bị đạn pháo xới lên, mịn như bột.
Trong điều kiện chiến đấu ngặt nghèo đó, sự sinh tồn và ý chí của bộ đội ta được thử thách đến tột cùng. Suốt 150 ngày đêm, các chiến sĩ phải sống, ăn uống và chiến đấu hoàn toàn dưới lòng đất. Bữa ăn chỉ vỏn vẹn có lương khô nấm mốc và vài ngụm nước suối được chắt chiu từng giọt. Ông Bảy nhớ lại một kỷ niệm đau đớn nhưng tràn đầy tình đồng chí: “Có đợt cao điểm vào tháng 6, địch bao vây siết chặt, suốt 3 ngày liền đơn vị hoàn toàn đứt liên lạc với tuyến sau, không có một hạt cơm hay giọt nước tiếp tế nào. Anh em môi nứt nẻ vì khát, bụng đói cồn cào nhưng tay vẫn ôm chặt cây súng. Chúng tôi nhường nhau từng hớp nước mưa đọng lại trong vũng bom, động viên nhau: "Còn người là còn chốt, quyết không lùi bước".
Trận đánh thử thách nhất đối với ông Bảy và tổ chiến đấu diễn ra vào một buổi sáng đầu tháng 7/1972. Sau một loạt pháo bắn chuẩn bị kéo dài hàng tiếng đồng hồ, địch tung bộ binh có xe tăng và xe bọc thép húc gác mở đường tấn công trực diện vào trận địa của Tiểu đoàn 1. Tiếng xích xe tăng gầm rú xé toạc không gian, tiến sát vào mép hào của ta.
Khói đạn mù mịt làm hạn chế tầm nhìn, nhưng với kinh nghiệm và sự dũng cảm, ông Bảy cùng tổ chiến đấu gồm 3 người vẫn bình tĩnh chờ địch vào thật gần. Khi chiếc xe tăng đi đầu chỉ còn cách công sự khoảng 30 mét, ông Bảy nhô người lên khỏi miệng hầm, vác khẩu B40 nhằm thẳng vào hông xe bóp cò. Một tiếng nổ lớn vang lên, chiếc xe tăng bùng cháy dữ dội. Ngay lập tức, chiếc thứ hai lao lên định trả đũa, đồng đội của ông tiếp tục bồi thêm một quả đạn khiến chiếc xe này cũng chịu chung số phận, nằm chỏng chơ trên mặt đường Quốc lộ 13.
Quá tức tối vì mất xe tăng, bộ binh địch điên cuồng xả súng và ném lựu đạn về phía hầm của tổ ông Bảy. Một mảnh đạn pháo găm thẳng vào chân trái của ông, máu chảy đầm đìa. Đồng đội định băng bó và đưa ông về tuyến sau, nhưng ông Bảy dứt khoát từ chối: “Lúc ấy trận chiến đang ở thế giằng co từng mét đất. Tôi bảo đồng đội cứ băng bó chặt lại để cầm máu rồi tôi tiếp tục nạp đạn. Tôi còn đôi tay, còn đôi mắt thì còn chiến đấu được!”. Sự kiên cường của ông và các chiến sĩ đã bẻ gãy hoàn toàn trận càn quét quy mô lớn đó của địch, giữ vững trận địa trong sự ngỡ ngàng của đối phương.
Đến cuối tháng 8/1972, sau 150 ngày đêm kiên cường bám trụ, đập tan hàng trăm đợt phản kích của quân địch, phá hủy hàng chục xe tăng, xe bọc thép và loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn tên địch, Tiểu đoàn 1 cùng các đơn vị bạn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến lược. Con đường Quốc lộ 13 đoạn qua Tàu Ô đã trở thành bức tường thành không thể xuyên phá.
Chiến thắng Tàu Ô đã góp phần quyết định vào thắng lợi chung của Chiến dịch Nguyễn Huệ 1972, đập tan mưu đồ giải vây cho An Lộc của Mỹ - Ngụy, bảo vệ an toàn cho vùng giải phóng Lộc Ninh. Chiến công vang dội ấy đã được lịch sử ghi nhận và nhân dân truyền tụng qua câu nói nổi tiếng, trở thành niềm tự hào độc quyền của người dân Bình Phước: "Tàu Ô - Xóm Ruộng - chốt thép miền Đông".
Ngồi chăm chú lắng nghe từng lời kể mộc mạc nhưng hào hùng của ông Nguyễn Văn Bảy, lòng em lại dâng trào những cảm xúc nghẹn ngào khó tả. Nhìn vào vết sẹo dài trên chân ông – dấu vết của trận chiến sinh tử năm xưa, em mới thấu hiểu một cách sâu sắc rằng: Hòa bình, độc lập và cuộc sống bình yên, hạnh phúc mà thế hệ chúng em đang được hưởng thụ hôm nay không phải tự nhiên mà có. Nó đã được đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu xương của biết bao thế hệ cha anh đi trước, được tôi luyện ngay trên chính mảnh đất Chơn Thành quê hương em.
Câu chuyện của ông Bảy không chỉ là một bài học lịch sử sống động về lòng yêu nước, mà còn là ngọn đuốc thắp sáng lý tưởng sống cho thế hệ trẻ. Em cảm thấy vô cùng tự hào khi được sinh ra và lớn lên trên quê hương Chơn Thành – nơi có những con người kiên cường, có những "chốt thép" đi vào huyền thoại.
Để xứng đáng với sự hy sinh to lớn của ông Bảy cũng như của hàng ngàn anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống, em tự hứa với bản thân sẽ luôn cố gắng noi gương học tập thật tốt, rèn luyện đạo đức, tích cực tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa tại địa phương. Em nguyện sẽ mang hết sức trẻ và tri thức của mình để góp phần xây dựng quê hương Chơn Thành ngày càng giàu đẹp, văn minh, xứng đáng với truyền thống anh hùng độc lập của các thế hệ cha anh đi trước.



