Ký úc của bà nội tôi, một người phụ nữ dân tộc Cor
CÂU CHƯYỆN THỜI HOA LỬA
Có những câu chuyện không được ghi vào sách vở, nhưng lại hằn sâu trong ký ức của những con người đã đi qua chiến tranh. Với tôi, người lưu giữ những ký úc ấy chính là bà nội tôi, một người phụ nữ dân tộc Cor, năm nay đã 81 tuổi, quê ở Trà Nú. Bà không cầm súng ngoài chiến trường, nhưng bà đã trải qua những ngày tháng “thời hoa lửa” bàng chính đôi vai nhỏ bé của mình, làm công việc vận chuyển hậu cần một công việc thầm lặng nhưng không thể thiếu trong cuộc kháng chiến.
Bà kể, năm 16 tuổi, gia đình giục gả chồng, nhưng bà không chịu. Một cô gái nhỏ, nhưng đã mang trong mình ý thức tự chủ và khát vọng đi theo con đường riêng. Năm 17 tuổi, vào khoảng 1963, bà gặp một anh kế toán của đơn vị. Thấy bà lanh lợi, nhanh nhẹn lại ưa nhìn, anh ngỏ lời xin với gia đình cho bà theo đơn vị tham gia công tác. Gia đình đồng ý, bà được mua cho ba bộ đồ để mang theo, tài sản quý giá nhất của một thiếu nữ bước vào đời trong hoàn cảnh gian khổ. Từ đó, bà chính thức trở thành một thành viên của lực lượng vận chuyển hậu cần. Công việc của bà là đi theo đoàn vận chuyển đồ từ dưới xuôi lên đơn vị, có những ngày đi từ sáng sớm đến tận khuya mới về. Con đường từ núi xuống xuôi rồi từ xuôi lên núi quanh co, hiểm trở, nhưng bà vẫn cõng từ thùng hàng nặng trĩu trên lưng. Bà kể giản dị: “ Hồi đó cực lắm, nhưng ai cũng ráng. Không ai nghĩ mình đang làm điều lớn lao, chỉ biết đó là nhiệm vụ.”. Nhưng chiến tranh đâu có nhẹ nhàng như lời kể của bà. Bà đã chứng kiến nhiều lần “hút chết” đến rợn người. Có một lần, đoàn vận chuyển của bà bị máy bay địch thả bom trúng vào hàng đầu và hàng cuối. Nhiều người ngã xuống, có người bị bắt sống. Tiếng nổ xé toạc núi rừng. Ngay sau trận bom ấy, cả đơn vị phải lập tức dời căn cứ để tránh lộ vị trí. Bà bảo: “Nhiều khi chỉ chậm một chút là banh xát như chơi”. Có những đêm cả đoàn mệt quá, phải xin ngủ nhờ nhà dân hoặc chui xuống hầm trú tạm. Nhưng ngay cả trong hầm cũng không yên ổn. Lần ấy, bà cùng nhiều người đang ngủ trong hầm sau chuyến cõng bánh kẹo phục vụ hội nghị. Trong hầm có đôi trai gái yêu nhau cô Tuyết và chú Minh. Cô Tuyết cột võng ngay gần chỗ chú Minh đang làm việc. Một quả bom bất ngờ rơi xuống. Có ba người trong hầm không qua khỏi. Cô Tuyết bị mảnh bom văng trúng mất cả hàm dưới… Bà im lặng khá lâu khi kể đến đoạn ấy. Cả nổi ám ảnh kéo dài suốt đời bà chỉ gói gọn trong câu thở dài: “ Tiếc cho tuổi trẻ tụi hắn”. Nhưng có lẽ kinh hoàng nhất là lần đoàn đi đến đoạn sông Tiên thuộc Tiên Lộc. Vừa tới nơi thì gặp giặc. Cả đoàn chạy bạt mạng vào rừng. Nhiều người bị bắn trúng, có người chết ngay ven sông. Cô Phụng một người congái trẻ trong đoàn bị địch bắn trúng chân nhưng vẫn cố bò lết, xé áo băng lại để cố chạy. Bà nói: “ Nhìn nó lết trên đất mà tao không dám quay lại kéo, vì chỉ cần dừng một giây là chết cả hai”. Những câu chuyện ấy không phải để kể công, mà là để nhắc cháu con rằng: hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu và nước mắt. Bà may mắn sống tốt sau chiến tranh, lập gia đình và có con có cháu. Nhưng mỗi khi nhắc đến những người đã ngã xuống, mắt bà vẫn ngân ngấn nước. “ Bà sống được chừng ni là nhờ trời thương. Còn nhiều đứa trẻ hơn, giỏi hơn bà mà nằm lại dưới bom đạn hết rồi”.
Ngồi nghe bà kể, tôi thấy mình lớn thêm một chút. Những điều bà trải qua không chỉ là câu chuyện của riêng bà, mà là câu chuyện chung của cả một thế hệ phụ nữ Việt Nam âm thầm gánh vác hậu phương để tiền tuyến vững vàng. Những người phụ nữ nhỏ bé nhưng kiên cường, không ngại hiểm nguy, sẵn sàng hi sinh tuổi xuân cho đất nước.
Hôm nay, khi được sống trong hòa bình, tôi hiểu rằng nhiệm vụ của mình không phải là cõng hàng qua bom đạn như bà nữa, mà là phải sống tử tế hơn, biết ơn hơn, và không bao giờ quên đi những người đã sẵn sàng hy sinh tuổi xuân cho hòa bình của đất nước. Câu chuyện của bà là lời nhắc nhở: hãy trân trọng hiện tại, trân trọng đất nước và những điều bình dị nhất mà mình đang có.


