Ký ức của chiến sĩ quân báo tạo ‘thân phận giả’ cho biệt động Sài Gòn
Trong điều kiện thiếu thốn, những giấy tờ do ông Lâm Quốc Dũng làm giả đã giúp hàng trăm chiến sĩ vượt trạm kiểm soát vào Sài Gòn an toàn trong Xuân Mậu Thân 1968.

Những ngày giáp Tết Mậu Thân 1968, từng chiến sĩ biệt động và lực lượng phục vụ chiến đấu lần lượt tìm đường vào Sài Gòn. Để vượt qua các trạm kiểm soát dày đặc, ngoài vũ khí và phương án tác chiến, họ cần một thứ không thể thiếu, đó là giấy tờ đủ sức chứng minh mình là một người dân bình thường.
Khoảng 200 giấy tờ giả đã được chuẩn bị cho lực lượng trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Trên những tấm căn cước ấy, họ tên có thể giả, quê quán giả, tên cha mẹ và tuổi cũng giả; chỉ khuôn mặt, dấu vân tay cùng một số đặc điểm nhận dạng là thật.
Ở phía sau, người làm ra những giấy tờ ấy thấp thỏm chờ tin. Chỉ một con dấu lệch nét, một chữ ký chưa giống hoặc dùng sai màu mực cũng có thể khiến người cầm nó bị giữ lại, kéo theo nguy cơ kế hoạch phía sau bị phát hiện.
Người đứng sau một phần những tấm căn cước ấy là Lâm Quốc Dũng (bí danh Dũng Râu), một chiến sĩ Quân báo còn rất trẻ. Ông giả chữ ký của nhiều quận trưởng đến mức đồng đội đặt cho một biệt danh đặc biệt: “Dũng Quận trưởng”.
Dũng Quận trưởng”
Những ngày cuối tháng 8/2026, khi cuộc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng (phường Hoà Hưng, TP.HCM) đang được khẩn trương triển khai, chúng tôi tìm gặp ông Lâm Quốc Dũng. Ông tiếp chúng tôi tại nhà riêng với dáng vẻ nhanh nhẹn, giọng nói vẫn sang sảng.
Câu chuyện ở Công viên Lê Thị Riêng khiến người cựu binh 76 tuổi đặc biệt chú ý. Gần sáu thập kỷ trước, khi nhiều đồng đội chuẩn bị bí mật vào Sài Gòn, chính đôi tay ông đã làm những tấm căn cước, giấy tờ mang tên tuổi và quê quán khác để họ vượt qua các trạm kiểm soát. Nhiều người sau đó bước vào trận đánh và không trở về.
Bởi vậy, khi nhắc đến thông tin có hàng trăm liệt sĩ Mậu Thân vẫn đang được tìm kiếm, giọng ông chùng xuống. Chiến tranh đã lùi rất xa nhưng với những người còn sống, vẫn còn những việc chưa thể coi là đã khép lại.
Rồi ông kể về mình, không bắt đầu bằng những tấm căn cước hay cái biệt danh “Dũng Quận trưởng”, mà từ một cậu bé quê Củ Chi mới 14 tuổi đã tìm cách khai thêm một tuổi để được đi bộ đội.
Năm 1964, khi phong trào thanh niên ở quê ông lên đường tham gia lực lượng cách mạng diễn ra mạnh mẽ, Dũng cũng muốn đi. Nhưng 14 tuổi thì chưa đủ điều kiện, cậu đã nghĩ ra một cách rất đơn giản: đổi năm sinh của mình từ 1950 thành 1949.
Đó là lần đầu tiên Lâm Quốc Dũng làm giả thông tin về chính thân phận mình để được đi bộ đội.
Ngày mới nhập ngũ, ông được đưa về Phòng Chính trị, làm ở bộ phận Tuyên huấn. Công việc của cậu lính nhỏ tuổi chủ yếu xoay quanh việc in tờ báo của lực lượng vũ trang Quân khu Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Thời ấy không có máy móc, nhà in hiện đại như sau này, nhiều công đoạn phải làm thủ công.
Sau một thời gian, ông Dũng được cơ quan chọn đưa sang Khu ủy học điêu khắc.
Ông nhớ khóa học kéo dài chừng nửa năm. Những người học phải làm quen với việc tạo hình, khắc từng nét trên bản in. Với ông, thứ nghề học được khi ấy đơn giản là một nhiệm vụ đơn vị giao, ông chưa thể biết đôi tay quen cầm dụng cụ khắc sau này lại trở thành “vốn liếng” cho một công việc khác hẳn.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Năm 1967, khi việc chuẩn bị lực lượng cho chiến trường Sài Gòn bước vào giai đoạn gấp rút, Dũng được chuyển sang Quân báo. Ông làm cùng một đồng đội tên Sáu Hổ và bắt đầu nhận nhiệm vụ làm giấy tờ giả.
Từ đây, trước mặt chàng trai 17 tuổi không còn là những bản khắc phục vụ in báo mà là con dấu, chữ ký, căn cước và những mẫu giấy tờ thật của chính quyền Sài Gòn.
Muốn làm giả giấy tờ của một quận, trước hết phải có mẫu thật để nghiên cứu. Dũng quan sát hình dáng con dấu rồi khắc lại. Những chi tiết càng nhỏ càng phải cẩn thận bởi chỉ cần một chỗ khác thường cũng có thể khiến người kiểm tra sinh nghi.
Ông tự đặt ra yêu cầu giấy làm ra phải giống mẫu thật trên 90%.
Khó nhất, theo ông, là mặt con dấu và chữ ký. Nếu con dấu đòi hỏi đôi tay khéo thì chữ ký lại cần cả sự kiên nhẫn. Mỗi quận trưởng có một kiểu ký khác nhau, người viết chữ lớn, người nhỏ, nét mạnh hay nhẹ cũng khác. Đến màu mực thường dùng trên từng loại giấy tờ cũng phải để ý.
Dũng cứ thế tập ký, một chữ ký khó, ông viết trên cả chục phôi, đặt cạnh mẫu thật rồi lựa ra cái giống nhất. Không đạt thì bỏ, làm lại. Công việc lặp lại đến mức Dũng dần quen với chữ ký của hết quận trưởng này đến quận trưởng khác.
Thời điểm ấy, giấy tờ tại các quận của Đô thành Sài Gòn cũng như nhiều khu vực lân cận như Củ Chi, Thủ Đức, Bình Chánh, Hóc Môn thường có chữ ký của quận trưởng. Làm giấy ở đâu, Dũng lại phải học chữ ký của người có thẩm quyền ở đó.
Anh em trong đơn vị thấy chàng trai trẻ ngày nào cũng ngồi ký tên hết vị quận trưởng này đến vị quận trưởng khác, liền đặt cho ông một cái tên nghe vừa vui vừa lạ: “Dũng Quận trưởng”. Và cái tên theo ông từ đó.
Những giấy tờ do ông Lâm Quốc Dũng làm giả đã giúp hơn 200 chiến sĩ vượt trạm kiểm soát, trót lọt vào Sài Gòn trong Xuân Mậu Thân 1968.
Nhưng sau biệt danh vui ấy là một áp lực mà khi trò chuyện với chúng tôi, ông Dũng nhắc đi nhắc lại nhiều lần: Người làm giấy không phải người trực tiếp chịu hậu quả nếu tấm giấy bị phát hiện, người cầm nó mới là người đứng trước trạm kiểm soát.
Những tấm căn cước trước giờ G
Đến gần Tết Mậu Thân 1968, công việc không còn dừng ở vài trường hợp riêng lẻ. Theo ông Dũng, khoảng 200 giấy tờ giả được chuẩn bị cho lực lượng trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu vào Sài Gòn.
Những tấm căn cước, giấy tờ mà ông và đồng đội làm đã được giao cho các chiến sĩ. Đến lúc ấy, người làm giấy gần như không còn khả năng can thiệp. Tấm căn cước có đủ sức qua mắt người kiểm tra hay không, chỉ khi người cầm nó thực sự đứng trước một trạm kiểm soát mới có câu trả lời.
Ông Dũng hiểu rõ điều đó hơn ai hết. Một con dấu chưa thật, một chữ ký khiến người ta nghi ngờ, thậm chí dùng không đúng màu mực mà viên quận trưởng vẫn thường ký cũng có thể trở thành sơ hở.
Bởi trong quá trình nghiên cứu giấy tờ, ông nhận ra mỗi người có thói quen dùng bút, dùng mực riêng. Nếu người làm giả tùy tiện thay đổi, chính chi tiết tưởng rất nhỏ ấy có thể khiến cả tấm giấy bị lật tẩy.
Nhưng điều khiến ông Dũng mất ăn mất ngủ không chỉ là số phận của một người. Nếu một chiến sĩ bị giữ trước giờ nổ súng, giấy tờ giả bị phát hiện, người đó có thể bị thẩm vấn. Từ một mắt xích, đối phương có thể lần tới những người khác, thậm chí phương án tác chiến đang được giữ bí mật có nguy cơ bị lộ.
Gần sáu thập kỷ sau, nhắc lại quãng thời gian ấy, ông vẫn nhớ cảm giác của mình khi từng người đã đi mà chưa có tin báo trở lại.
“Anh em vào thành rồi, tôi cứ như ngồi trên đống lửa, chỉ sợ giấy tờ bị phát hiện, ảnh hưởng đến cả kế hoạch tác chiến”, ông Dũng nhớ lại.
Ông chỉ thực sự thở phào khi giờ nổ súng đã đến, không ai bị bắt vì những giấy tờ ấy trước giờ G.
Nhưng điều khiến ông Dũng nhẹ nhõm trước trận đánh lại trở thành mối nguy đối với ông sau đó.
Một giao liên trẻ cùng đơn vị khi ấy chưa đến tuổi được cấp căn cước, để cậu có giấy tờ vào thành, Dũng làm một giấy khai sinh giả. Không may, trong quá trình hoạt động, người giao liên này bị bắt. Khi thẩm vấn, người của đối phương nhìn thấy tờ giấy khai sinh và hỏi ai đã làm.
Cậu thanh niên đáp rằng cha mình làm. Người hỏi không tin, họ nói thẳng một cái tên: “Tía mày phải Dũng Râu không?”.
Khi câu chuyện được truyền lại, ông hiểu rằng đối phương không còn đơn thuần biết có người làm giấy tờ giả, họ đã biết đến ông. Trong khi ông Dũng phải tìm cách tránh sự truy lùng, một cuộc đấu khác cũng bắt đầu.
Sau Tết Mậu Thân, phía chính quyền Sài Gòn nhận ra loại căn cước đang sử dụng đã bị làm giả. Theo lời kể của ông Dũng, khoảng nửa cuối năm 1968, loại thẻ cũ được thay thế bằng một mẫu căn cước mới, sử dụng kỹ thuật in khác và được kỳ vọng sẽ ngăn việc làm giả.
Người ta gọi nó là căn cước “rồng xanh”. Với ông Dũng, khó khăn nằm ngay trên mặt tấm thẻ.



