Cựu chiến binh

Ký Ức Của Lính Trinh Sát Pháo Binh Đinh Văn Kim và Cuộc Hành Trình Xuyên Lịch Sử

MỘT THỜI HOA LỬA: Ký Ức Của Lính Trinh Sát Pháo Binh Đinh Văn Kim và Cuộc Hành Trình Xuyên Lịch Sử

Ninh Bình23/04/2026Phạm Thị Thu Cúc (Trường CĐ Văn hóa Nghệ Thuật và Du lịch Nam Định)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Ký Ức Của Lính Trinh Sát Pháo Binh Đinh Văn Kim và Cuộc Hành Trình Xuyên Lịch Sử

Gặp lại người cựu chiến binh Đinh Văn Kim (Người làng Vấn Khẩu, Phường Cửa Nam, tỉnh Ninh Bình ngày nay) vào một ngày hòa bình, những ký ức về một "thời hoa lửa" lại ùa về vẹn nguyên trong tâm trí người lính già. Từng là lính trinh sát đo xa của lực lượng pháo cao xạ, đôi chân của người chiến sĩ ấy đã đạp bằng mọi gian khó từ miền Bắc, băng qua dãy Trường Sơn, tiến vào Tây Nguyên, góp mặt tại Dinh Độc Lập trong ngày tàn cuộc chiến, và rồi lại vươn mình ra tận quần đảo Trường Sa đầy nắng gió.

Tuổi 18 Xếp Bút Nghiên Lên Đường Ra Trận

Trở lại những năm tháng khói lửa, chàng thanh niên Đinh Văn Kim khi ấy vừa học xong lớp 7 – một trình độ học vấn được xem là "có giá" thời bấy giờ, đủ để được xếp vào diện cán bộ nguồn ở địa phương. Thực chất, ông sinh năm 1955, nhưng vì tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, cậu học trò ấy đã khai tăng thêm một tuổi thành 1954 để đủ điều kiện nhập ngũ.

1.jpg (351)

Ông Đinh Văn Kim và những người bạn thời trẻ

Ngày 22 tháng 05 năm 1972, ông chính thức khoác lên mình màu xanh áo lính, bước vào quân ngũ. Ông được biên chế vào Đại đội 31 (C31), Tiểu đoàn 1 (Z1), Trung đoàn 234, Sư đoàn 361 trực thuộc Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân. Nhiệm vụ của ông là lính trinh sát đo xa cho khẩu đội pháo cao xạ 57 ly.

Trong những năm tháng đầu tiên, bước chân của người lính trẻ đã in dấu tại hàng loạt các điểm nóng để bảo vệ vùng trời miền Bắc: từ Đông Anh, lên sân bay Kép (Hà Bắc), vòng về sân bay Đa Phúc (Nội Bài ngày nay), và vào bảo vệ sân bay Sao Vàng (Thanh Hóa).

Vượt Trường Sơn - Nhai Măng Rừng, Kéo Pháo Bằng Tay

Đầu năm 1973, sau Hiệp định Paris, dù miền Bắc đã ngớt tiếng bom, nhưng chiến trường miền Nam và nước bạn Lào vẫn rực lửa. Trung đoàn 234 nhận lệnh hành quân vào Nam, đổi phiên hiệu thành Lữ đoàn 234 trực thuộc Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3.

Hành trình vượt Trường Sơn là những trang ký ức ám ảnh nhưng cũng đầy tự hào. Để tránh máy bay Mỹ oanh tạc, đoàn quân phải "ngày nghỉ, đêm đi". Theo lời ông kể, đoàn quân phải vượt qua nhiều chặng đường hiểm trở, trong đó có đèo Chà Lì để sang đất Lào, đường trơn tuột bởi những tảng "đá đầu sư", nếu bật đèn lên, máy bay Mỹ bay suốt ngày trên bầu trời rải bom điên cuồng. Trong màn đêm và sương mù đặc quánh, những người lính phải cử người mặc áo trắng đi trước để làm hoa tiêu dẫn đường cho từng xe pháo nhích từng chút một, trong làn sương mù dày đặc đó, mỗi một hoa tiêu chịu trách nhiệm dẫn một xe, có những đêm chỉ đi được vài chục cây số. Đoàn quân vòng qua đất Lào, rồi vòng về khu vực Ngã ba Đông Dương để giấu quân và huấn luyện. Đây là một trong những tuyến đường gian nan nhất lúc bấy giờ.

Những người lính trẻ phải đi bộ hàng trăm cây số qua rừng sâu, đối mặt với bom đạn, thiếu thốn lương thực và điều kiện sinh hoạt khắc nghiệt. Nhưng chính trong hoàn cảnh ấy, tinh thần đồng đội và ý chí chiến đấu đã giúp họ vượt qua tất cả.

Vào đến B3 (Tây Nguyên) và khu vực ngã ba Đông Dương, kẻ thù lớn nhất không chỉ là đạn bom mà còn là cái đói.

"Gian khổ không tưởng tượng nổi. Gạo không có, mỗi ngày chỉ được 2 lạng rưỡi. Đói quá phải ăn sắn, ăn rau dớn, củ măng le, chuối rừng. Nước suối thì độc, bê lên uống là bị cảm lạnh." - Bác Kim nhớ lại.

Vừa sẵn sàng chiến đấu, họ vừa phải tự tăng gia sản xuất. Người đi trước cắm củ sắn xuống đất, người đi sau lại vun xới. Cứ thế, những vạt sắn mọc lên dọc đường hành quân nuôi sống bộ đội cụ Hồ. Đến năm 1974, đơn vị của bác tham gia bảo vệ Cống Ba Lỗ, câu cầu đi sang Kon Tum gần chốt 42 và các vị trí trọng yếu trong khu vực. Tại đây, đơn vị phòng không đã tham gia đánh trả các cuộc không kích của đối phương, trong đó có việc bắn hạ máy bay A-37 Dragonfly của quân ngụy.

Đối với người lính phòng không, mỗi trận đánh là cuộc đối đầu căng thẳng giữa ý chí con người và sức mạnh của chiến tranh hiện đại. Nhưng với ông Kim và đồng đội, đó cũng là trách nhiệm thiêng liêng để bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc.

Mùa xuân năm 1975, thời cơ chiến lược đã điểm. Ngày 09/03/1975, Bác Kim cùng đồng đội tham gia trận đánh mở màn chiến dịch Tây Nguyên tại Buôn Ma Thuột. Để đảm bảo yếu tố bất ngờ, xe kéo pháo không được sử dụng. Bằng sức người và ý chí sắt đá, những người lính đã tự tay kéo pháo đi suốt mấy cây số.

"Giờ N, có lẽ là vào khoảng 5 giờ 30 sáng, lính chúng tôi không biết chính xác mấy giờ đâu, chỉ biết nghe theo lệnh của cấp trên thôi, lúc đó pháo mặt đất nã đạn gầm trời. Trận đánh ác liệt, dân kêu, tiếng chó sủa, trẻ con khóc, tiếng xe hú, thương vong nhiều không kể xiết." Chiến thắng Buôn Ma Thuột như một đòn sấm sét, mở toang cánh cửa Tây Nguyên. Thừa thắng xông lên, đoàn quân rầm rập tiến về Nha Trang, qua đèo Krông Pha, rồi xuôi thẳng về Củ Chi. Vừa đi vừa đánh, cứ gặp cứ điểm là hạ nòng pháo bắn thẳng.

Và rồi, thời khắc lịch sử cũng đến. Sáng 30/04/1975, đơn vị của bác Kim tiến vào cửa ngõ Hóc Môn. Địch chống cự quyết liệt, đạn từ các tầng cao bắn xuống xối xả. Bằng sự dũng cảm và hỏa lực áp đảo, đúng 10 giờ 30 phút lính trinh sát Đinh Văn Kim đã có mặt tại sân bay Tân Sơn Nhất, sát cánh cùng đồng đội bảo vệ sân bay.

"Dân ùa ra đông lắm. Họ mang bánh mì, mang thuốc lá tiếp tế cho bộ đội giải phóng. Cảm xúc lúc đó vui sướng không tả nổi." - Ánh mắt người cựu binh già rực sáng khi nhớ về ngày đại thắng.

Từ Đất Liền Ra Biển Đảo: Giữ Gìn Từng Tấc Sóng Nơi Trường Sa

Tưởng chừng giải phóng miền Nam là có thể tháo ba lô về quê hương, nhưng Tổ quốc vẫn cần các anh. Năm 1976, đơn vị pháo cao xạ 37 ly của bác Kim tiếp tục được điều động ra quân cảng Cam Ranh (thuộc Lữ đoàn 126), sau đó nhận lệnh lên tàu ra bảo vệ đảo Trường Sa Lớn.

Những ngày đầu giải phóng, Trường Sa hoang sơ và khắc nghiệt tột cùng. Bốn tháng ròng rã trên đảo chỉ có sóng, gió và nước biển. Nhu yếu phẩm thiếu thốn trầm trọng, bộ đội chỉ sống dựa vào lương khô, mì hộp, thịt hộp bồi dưỡng. Không một lời oán thán, họ vẫn kiên cường bám trụ, giữ vững chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc trước khi bác Kim chính thức phục viên vào năm 1977.

Lời Khép Lại

Trải qua một vòng cung lịch sử từ Bắc vào Nam, từ đất liền ra hải đảo, cựu chiến binh Đinh Văn Kim là một trong những nhân chứng sống hiếm hoi đã chứng kiến trọn vẹn sự tàn khốc của chiến tranh và vinh quang của ngày hòa bình. Cả một thời tuổi trẻ hy sinh, gian khổ, thiệt thòi không lời oán than, nhưng đọng lại trong ông lúc này lại là một thông điệp vô cùng giản dị và sâu sắc:

"Nói chung về chiến tranh là khốn nạn nhất. Đừng bao giờ để nó xảy ra. Mất của, mất người, mà dân người ta mới là khổ nhất."

2.jpg (172)

Hình ảnh bác Kim trong căn nhà giản dị

Một thời hoa lửa đã lùi xa, nhưng những vết chân trần tứa máu vượt "đá đầu sư", những đôi tay chai sần vì kéo pháo của bác Kim và đồng đội sẽ mãi là bản hùng ca bất diệt, nhắc nhở thế hệ mai sau về cái giá vô ngần của Độc lập, Tự do và Hòa bình.

Tác giả: Phạm Cúc & Đinh Ánh

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn