KÝ ỨC CỦA MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG TRƯƠNG THỊ MẬN
Trên dải đất hình chữ S của dân tộc Việt Nam đã không còn tiếng bom cày, đạn xới. Những thành phố, làng quê bị bom đạn của bọn thực dân đế quốc làm cho hoang tàn giờ đã được xây dựng lại “hơn mười ngày xưa”. Những mất mát về vật chất đã được khôi phục nhưng có những mất mát mãi mãi vẫn không thể khôi phục được đó là nỗi đau mất con, nỗi đau tinh thần này vẫn cứ âm ỉ trong lòng các bà mẹ. Nỗi đau đó cũng là nỗi đau trong lòng mẹ Trương Thị Mận.
Mẹ Trương Thị Mận sinh năm 1930 tại ấp Phú Long xã Hưng Khánh Trung trong một gia đình nghèo có bảy anh chị em, Mẹ là chị cả trong gia đình. Vì là chị cả nên từ nhỏ Mẹ đã phải tảo tần phụ giúp gia đình chăm lo cho các em của mình. Nhà nghèo, anh chị em đông nên Mẹ không được đi học, phải ở nhà mò cua, bắt ốc, cắm câu để lo cho bữa ăn của cả gia đình.
Năm 1949, Mẹ lập gia đình. Chồng Mẹ là ông Nguyễn Văn Chính, Ông là công an xung phong ở Sóc Sải, quận Hàm Long. Địa bàn đơn vị Ông đóng quân bị giặc lấn chiếm, đóng bót nên phải di chuyển sang Chợ Lách, trên đường hành quân ông gặp bà và sau đó hai người nên duyên vợ chồng về sống tại Phú Long. Mẹ sinh được tám người con. Những năm sau Đồng Khởi, Mẹ tham gia các phong trào đấu tranh của nhân dân huyện nhà chống sự tàn bạo của Mỹ ngụy. Mẹ còn tham gia làm giao liên cho các đơn vị của ta hoạt động trên địa bàn xã. Biết gia đình Mẹ là gia đình cách mạng nên bọn giặc gây khó dễ đủ điều. Chồng Mẹ ông Nguyễn Văn Chính bị giặc bắt bỏ tù ở Đôn Nhơn ba lần. Để cách li gia đình Mẹ khỏi cách mạng, bọn chúng bắt gia đình Mẹ phải dời vào ấp chiến lược. Mẹ từ chối nên nhà Mẹ thường xuyên là mục tiêu bắn phá của bọn giặc. Mẹ đã phải dời nhà đi nhiều lần, có lúc vì không có nhà ở Mẹ đã xin ở nhờ chuồng trâu bò hoang của người khác, lần cuối cùng Mẹ dời nhà là vào năm 1970. Để tránh sự bắn phá của giặc, Mẹ đã dời nhà về cất gần bót Phú Long, nhà Mẹ chỉ cách bót khoảng 100 mét. Chính vì nhà gần bót nên mọi hoạt động của giặc Mẹ đều biết và đây là nguồn thông tin quan trọng cho lực lượng của ta.
Năm 1969, người con trai lớn của Mẹ là anh Nguyễn Văn Mây tham gia cách mạng, anh thuộc Tiểu đoàn 516 tỉnh Bến Tre. Chỉ một năm sau, trong một trận đánh tại xã Minh Đức huyện Mỏ Cày anh đã anh dũng hy sinh khi vừa mới 19 tuổi. Trước khi hy sinh mấy tháng Mẹ còn bắt anh về và đi hỏi vợ cho anh, anh còn hẹn Mẹ khi nào đất nước thống nhất sẽ về cưới vợ. Năm 1972, con trai thứ ba của Mẹ anh Nguyễn Văn Mưa cũng tham gia kháng chiến thuộc Tiểu đoàn 590 (Tiểu đoàn 9) tỉnh Bến Tre. Anh chiến đấu rất kiên cường cho đến ngày đất nước được thống nhất. Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã cướp đi của Mẹ người con trai lớn. Những tưởng nỗi đau đã kết thúc, ba năm sau con trai thứ 8 của Mẹ là anh Nguyễn Văn Bé lại lên đường làm nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia. Mẹ lại nơm nớp lo vì lúc này chiến trường Campuchia rất ác liệt. Năm 1982, anh trở về lành lặn Mẹ mừng khôn xiết. Mẹ hối thúc anh lập gia đình, chiều lòng Mẹ anh cũng đi coi mắt một cô gái trong xóm nhưng nói năm sau mới cưới. Về quê được mấy tháng thì người em trai út của anh trúng tuyển nghĩa vụ. Thương em, anh đã tình nguyện đi thay em mình lần hai. Năm 1984, vào đợt cao điểm truy quét tàn quân Polpot, Trung đoàn 962 hải quân của anh được điều động vào chiến trường. Trong đợt truy quét này anh đã nằm lại vĩnh viễn trên đất bạn Campuchia. Nhận được tin này Mẹ như chết lặng.
Có những sự thật có thể thay đổi được nhưng cũng có những sự thật buộc người ta phải chấp nhận nó, phải chịu đựng nó. Mẹ cũng vậy, Mẹ phải chấp nhận một sự thật rằng qua hai cuộc chiến Mẹ phải mất đi hai người con. Những ngày tuổi già dần dần đến với Mẹ, nhưng càng lớn tuổi thì những ký ức, những hình ảnh về hai đứa con mà Mẹ đã đứt ruột sinh ra cứ hiện về. Mỗi năm cứ vào ngày giỗ hai anh, Mẹ lại khóc lại nhắc lại từng người, Mẹ nhớ đặc điểm của từng người. Mẹ lại tiếc tại sao lúc đó không hối thúc chúng cưới vợ, Mẹ sợ khi Mẹ mất đi thì mồ mả, nhang khói biết có ai lo không. Những lo lắng đơn giản của một người lớn tuổi nhưng đó lại là đặc điểm chung của những bà Mẹ đó là cho đến lúc sắp lìa khỏi thế gian vẫn cứ lo cho con cái. Và điều đó cũng đến, năm 2008 sau một trận bạo bệnh Mẹ đã qua đời. So với chiều dài lịch sử dân tộc thì một đời người chỉ là một khoảnh khắc nhưng chính những khoảnh khắc sống của các bà mẹ Việt Nam anh hùng đã tô điểm cho lịch sử dân tộc ta thêm chói sáng.
Với những đóng góp đó, ngày 21 tháng 7 năm 2014 Mẹ được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu "Bà Mẹ Việt Nam anh hùng".



