KÝ ỨC CỦA NGƯỜI CON THÁI NGUYÊN
Thủa nhỏ, lũ trẻ trong xóm chúng tôi thường hay chạy qua nhà bà cụ Tứ hàng xóm chơi, nghe bà kể những câu chuyện từ thời bà còn thanh niên, cái thời nhân dân ta gồng mình kháng chiến đánh đuổi Thực dân, đánh đuổi Đế quốc.
Cụ là người sống cạnh nhà mẹ con bác Lâm hồi kháng chiến. Nay tuổi đã cao, mỗi lần ngồi trước hiên nhà nhìn ra cánh rừng phía xa, cụ lại nhớ đến những năm tháng gian khổ ấy ở vùng ATK Định Hóa, Thái Nguyên. Khi đó, bản chúng tôi nằm lọt thỏm giữa núi rừng Việt Bắc, quanh năm mây phủ. Ban ngày người dân làm nương trồng sắn, trồng ngô, ban đêm lại âm thầm nuôi giấu cán bộ, đưa thư, gùi gạo cho bộ đội. Nhà cụ sát vách nhà mẹ con bác Lâm. Cha của bác đi bộ đội từ sớm, để lại hai mẹ con nương tựa nhau. Mẹ ông người nhỏ, gầy gò, nhưng gan lì và tháo vát. Tối tối, cụ Tứ thường thấy bà ngồi bên bếp lửa vá áo cho du kích, còn bác Lâm thì lom khom nhặt củi, đun nước. Khi đó bác mới hơn mười tuổi mà đã quen việc rừng rú, lối mòn nào cũng thuộc như lòng bàn tay. Mỗi lần có chuyến giao liên, mẹ con bác lại gùi gạo, muối, thuốc men vào rừng. Có bận trời mưa rừng xối xả, cụ đứng trước cửa nhìn theo, chỉ thấy hai bóng người nhỏ dần giữa làn mưa trắng xóa. Trong bụng cụ lo lắm, nhưng biết khuyên cũng chẳng được, vì việc ấy là việc chung của cả bản.
Một sáng đầu mùa mưa năm ấy, giặc Pháp kéo lên càn. Từ phía đường cái vọng lại tiếng giày đinh, tiếng chó sủa và tiếng người la hét. Du kích báo động, cả bản tản ra theo những lối mòn quen thuộc. Hôm đó, cụ thấy mẹ bác Lâm hớt hải sang nhà nói nhỏ:
– Bác ạ, tôi phải đưa một đồng chí bị thương lên rừng ngay.
Nói rồi bà quay về, khoác gùi, gọi con đi theo. Bà cụ Tứ nhìn hai mẹ con mà ruột gan nóng như lửa đốt. Đồng chí cán bộ ấy bị trúng đạn ở chân, đi lại rất khó. Hai mẹ con phải dìu từng bước ra khỏi bản bằng lối sau, men theo con đường nhỏ xuống suối. Rừng hôm ấy im lìm đến lạ, chỉ nghe tiếng lá khô lạo xạo và vài tiếng súng xa xa. Cụ và mấy người trong bản ở lại, chỉ biết cầu mong họ thoát. Đến con suối lớn, nước mùa mưa dâng cao và lạnh buốt. Sau này bác Lâm kể lại với cụ: mẹ cõng đồng chí cán bộ trên lưng, còn mình đi trước dò từng bước. Nước chảy xiết làm nó trượt ngã mấy lần, đầu gối trầy xước, nhưng vẫn cắn răng đứng dậy. Sang được bờ bên kia, cả ba người run lên vì lạnh và mệt.
Họ tìm đến một hang đá nhỏ khuất sau lùm cây rậm. Hang ấy vốn là chỗ trú mưa của dân bản, về sau thành nơi giấu cán bộ mỗi khi giặc càn. Mẹ nó đặt đồng chí cán bộ nằm lên lớp lá khô, còn bác đứng ngoài canh chừng.
Chưa kịp nghỉ thì từ phía suối vang lên tiếng chó sủa và tiếng giày đinh. Hai mẹ con hốt hoảng. Mẹ bảo Lâm lấy cành cây xóa dấu chân trên bờ suối. Xong xuôi, họ quay lại hang, phủ thêm lá cây che kín lối vào. Qua kẽ lá, họ nhìn thấy mấy tên lính đứng bên bờ suối, chỉ trỏ và quát tháo. Con chó săn chạy qua chạy lại, sủa inh ỏi. Bác Lâm bảo cụ Tứ rằng lúc ấy tim đập mạnh đến mức tưởng bọn lính nghe thấy. May sao, bọn giặc tìm một hồi rồi bỏ đi theo hướng khác. Có lẽ chúng nghĩ không ai có thể vượt qua con suối nước xiết ấy trong lúc nguy cấp. Khi tiếng bước chân xa dần, hai mẹ con mới dám thở mạnh ra. Lưng áo ướt đẫm mồ hôi dù trời rất lạnh. Họ ở trong hang đá hai ngày liền. Mẹ thay băng cho đồng chí cán bộ, còn bác Lâm đi hái lá rừng về nấu nước.
Đến ngày thứ ba, du kích báo tin giặc đã rút. Đồng chí cán bộ được đưa về căn cứ an toàn. Chiều hôm ấy, cụ thấy mẹ con bác trở về bản. Mặt ai cũng hốc hác, áo quần lấm bùn, nhưng ánh mắt thì nhẹ nhõm. Mẹ bác sang nhà cụ Tứ, nói:
– Bác ạ, may mà thoát rồi.
Cụ Tứ chỉ biết gật đầu, lòng vừa mừng vừa phục. Ít lâu sau, nghe nói đồng chí cán bộ ấy vẫn tiếp tục chỉ huy kháng chiến trong vùng. Từ lần đó, bác Lâm càng gan dạ hơn. Bác theo mẹ đi giao liên nhiều chuyến nữa. Có bận đi ban đêm, có bận mưa gió, nhưng chưa lần nào chùn bước. Mỗi khi thấy bác Lâm gùi gạo băng rừng, cụ lại nghĩ: Tuổi thơ của nó không có đồ chơi, chỉ có núi rừng và khói lửa chiến tranh. Ngày hòa bình lập lại, bản làng rộn ràng tiếng cười. Những con đường mòn được mở rộng, những hầm bí mật được lấp lại. Đến khi bác Lâm lớn lên, cũng khoác áo bộ đội như cha mình. Mỗi lần về thăm quê, lại ghé sang nhà cụ chào hỏi, nhắc chuyện cũ.
Tôi nghe mà vừa thương vừa tự hào. Giờ đây, kể lại cho con cháu nghe, tôi chỉ muốn chúng hiểu rằng: Thắng lợi của dân tộc không chỉ nhờ những trận đánh lớn, mà còn nhờ những người dân bình thường như mẹ con bác Lâm – lặng lẽ gùi gạo, che chở cán bộ giữa núi rừng Thái Nguyên năm ấy.



