Ký ức của những người lính trở về từ cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc P2
Cho đến hôm nay, khi mái tóc đã bạc theo năm tháng, những kỷ niệm về cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức Thượng tá Bạch Đăng Tân, người lính năm xưa hiện sinh sống tại phường Mộ Lao, quận Hà Đông, Hà Nội. Mỗi lần nhắc lại, ông vẫn không giấu được sự xúc động, bởi đó là quãng đời gắn với bom đạn, mất mát và những hy sinh không thể đong đếm.
Cho đến hôm nay, khi mái tóc đã bạc theo năm tháng, những kỷ niệm về cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức Thượng tá Bạch Đăng Tân, người lính năm xưa hiện sinh sống tại phường Mộ Lao, quận Hà Đông, Hà Nội. Mỗi lần nhắc lại, ông vẫn không giấu được sự xúc động, bởi đó là quãng đời gắn với bom đạn, mất mát và những hy sinh không thể đong đếm.
Nhập ngũ từ tháng 2/1975, ban đầu ông Tân được huấn luyện để chuẩn bị tham gia chiến dịch giải phóng miền Nam. Nhưng khi đất nước thống nhất, ông được điều động bổ sung cho các đơn vị khác, rồi tiếp tục theo học tại Học viện Kỹ thuật quân sự. Sau bốn năm miệt mài trên giảng đường, đầu năm 1979, vừa tốt nghiệp Khoa Công nghệ chế tạo vũ khí – đạn, ông nhận lệnh biên chế về Quân khu 1, lên Cao Bằng đúng thời điểm cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc bùng nổ.
Nhắc lại những ngày đầu lên đường, ông kể rằng con đường từ Thái Nguyên, Bắc Kạn lên Cao Bằng khi ấy vô cùng gian nan. Đèo núi chồng chất, đường hẹp, hiểm trở, xe cộ phải bò từng đoạn. Khi đơn vị đóng quân cách thị xã Cao Bằng khoảng tám cây số, cảnh tượng trước mắt khiến tất cả sững sờ: pháo nổ không ngớt, bom đạn cày xới, thị xã tan hoang trong khói lửa.
Đêm đầu tiên đặt chân tới Cao Bằng, không khí tưởng như tĩnh lặng thì bất ngờ quân Trung Quốc tràn vào thị xã. Sự việc diễn ra nhanh đến mức nhiều người dân còn ngỡ đó là bộ đội ta hành quân. Khi nhận ra sự thật, dân chúng hốt hoảng bỏ chạy trong hỗn loạn. Đơn vị của ông lập tức nhận lệnh chiến đấu. Trong hoàn cảnh ấy, nhiệm vụ của ông Tân là phụ trách kỹ thuật súng đạn cho đơn vị – một công việc thầm lặng nhưng có ý nghĩa sống còn giữa chiến trường.
Quân địch lúc đó rất mạnh, với xe tăng, pháo binh và hỏa lực dày đặc. Tuy nhiên, địa hình Cao Bằng lại là điểm yếu chí tử của chúng. Đường độc đạo, dốc cao, nhiều vực sâu khiến xe tăng và phương tiện cơ giới khó xoay trở. Chỉ cần một chiếc bị bắn cháy, cả đoàn phía sau có thể bị chặn đứng.
Từ thực tế ấy, bộ đội ta đã lựa chọn cách đánh phù hợp. Trong điều kiện lực lượng mỏng, vũ khí hạn chế, các mũi chiến đấu tập trung tiêu diệt các xe tiếp tế chở nước, xăng, dầu – cắt nguồn sống của đội hình tiến công. Khi bị đánh trúng “yết hầu”, quân địch rơi vào thế bị động, thiếu hậu cần, không có đường rút. Bằng cách đánh ấy, quân ta từng bước giành lại quyền chủ động, làm chủ thế tiến công từ thị xã Cao Bằng ra các huyện biên giới như Quảng Hòa, Trùng Khánh. Địch rơi vào cảnh tan rã, buộc phải co cụm.
Một trong những thời khắc căng thẳng nhất, theo lời ông Tân, là khi quân Trung Quốc buộc phải vượt qua cầu Tài Hồ Sìn – cây cầu huyết mạch nối xã Bạch Đằng (Hòa An) với các tuyến đường tiến sâu vào Cao Bằng và Bắc Kạn. Nếu để đối phương vượt qua, nguy cơ bị tràn sâu là rất lớn. Trong tình thế khẩn cấp, bộ đội ta đã quyết định đánh sập cây cầu, chấp nhận hy sinh công trình để chặn đứng bước tiến của địch. Quyết định ấy đã góp phần làm thay đổi cục diện trên hướng này.
Những tháng cao điểm từ tháng 2 đến tháng 4/1979 là quãng thời gian khốc liệt nhất. Quân và dân ta hy sinh rất nhiều. Có những đơn vị gần như không còn nguyên vẹn sau các trận đánh. “Anh hùng lắm, nhưng đau thương cũng nhiều lắm”, ông Tân trầm giọng khi nhắc đến những đồng đội đã nằm lại nơi rừng núi biên cương.
Những ngày chiến đấu, bộ đội phải ngủ rừng giữa giá lạnh, vắt bám quanh người, bệnh tật rình rập trong rừng thiêng nước độc. Gian khổ chồng chất gian khổ. Nhưng giữa tất cả, điều khiến ông Tân cảm thấy may mắn nhất là mình còn sống để chứng kiến biên giới hồi sinh sau khi quân Trung Quốc rút khỏi nước ta.
Sau chiến tranh, ông tiếp tục ở lại Cao Bằng làm nhiệm vụ bảo dưỡng trang thiết bị quân sự. Quân đội ta nhanh chóng xây dựng các tuyến phòng thủ, củng cố biên giới lâu dài. Song song với nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, bộ đội cùng nhân dân dựng lại nhà cửa, khôi phục sản xuất, gia cố hầm hào – tất cả trong tinh thần cảnh giác cao độ nhưng cũng đầy nhân ái.
Tháng 2/1981, hoàn thành nhiệm vụ, Thượng tá Bạch Đăng Tân được điều về công tác tại Bộ Quốc phòng. Suốt cuộc đời binh nghiệp, ông đã trải qua nhiều cương vị, được trao tặng nhiều huân, huy chương. Nhưng với ông, những ngày tháng gắn bó với Cao Bằng trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc đầu năm 1979 vẫn là dấu ấn sâu đậm nhất – một phần ký ức không thể phai mờ của đời người lính



