Ký ức cựu chiến binh Lý Đình Tiến
1. Kỷ niệm đầu tiên:
Tháng 7/1969, ông bắt đầu lên đường đi nhập ngũa, tập trung tại Tỉnh đoàn Yên Bái, ở đây khoảng 03 ngày để kiểm tra sức khỏe và phát quân trang rôi lên tàu từ Ga Yên Bái về H40-F305 Đặc công, thời ấy là Miếu Môn, Hà Tây cũ.
Quá trình di chuyển đến Ga Việt Trì thì tàu phải dừng lại do lũ lụt, cả đoàn quân phải đi bộ qua cầu Việt Trì thì có xe đơn vị đón. Đơn vị ông tập luyện khoảng 06 tháng tại Miếu Môn, khoảng tháng 10/1969, đại đội yêu cầu mỗi đồng chí phải tự đẽo 01 quả đạn B40 bằng gỗ, ông đã đi tìm không có, đi mua dân không bán. Một hôm ông đi tắm qua một cánh đồng, thấy người dân ngâm một số gỗ cây bạch, đến tối ông rủ thêm một người đồng đội đi cùng lấy trộm một đoạn cây về đẽo.
Hôm sau người dân phất hiện mất cây, vào đơn vị tìm thì thấy 02 quả đạn B40 àm bằng gỗ bạch đàn, đại đội hỏi lấy ở đâu, ông bảo: “Vì bí quá, không tìm không mua được nên phải đi lấy để đẽo”. ông và người đồng đội đã đi xin lỗi người dân, đồng thời bị kiểm điểm, phạt gác 03 đêm liên tục trong thời tiết mùa đông giá lạnh.
2. Ý chí
Tháng 3/1070, cả đại đội vào chiến trường Tây Nguyên, đi từ đơn vị ra Ga Thường Tín để đi tàu, hi vào đến cầu Hàm Rồng, Thanh Hóa, do máy bay địch bắn phá ác liệt nên tàu không chạy được, cả đơn vị phải hành quân đi bộ. Khi di chuyển vào đến Quảng Trạch, Quảng Bình thì bắt đầu bị B52 của địch bắn phá, địch thả 01 quả bom nổ trước đường đi khiến cả đại đội tán loạn, ông bị rơi xuống hố bom, xung quanh mùi khét lẹt bốc lên, ông nằm xuống một lúc máy bay địch bay qua, khi đó các tiểu đội, trủng đội mới tập trung lại quân. Tuy nhiên, sau khi kiểm quân thì đại đội đã có hơn 10 đồng chí hy sinh, trong có có đồng chí đại đội trưởng, không nao núng, đồng chí đại đội phó tiếp tục dẫn đại đội hành quân vào chiến trường.
Khi vượt qua dãy Trường Sơn, đại đội đã gặp đoàn thương, bệnh binh từ trong nam ra, rất nhiều người bị thương băng bó, người đã không còn tay, người không còn chân đã làm nao núng tinh thần của một số đồng chí, có một người đồng đội đã ghé vào tai ông và nói “Về thôi, mày nhìn xem vào là chết đấy, tao đi về thôi”. Ông đáp: “Mày về thi cứ về, tao đi tiếp thôi” và sau đó ông cùng những đồng đội khác tiếp tục lên đường.
Quá trình di chuyển rất khó khăn, băng qua đường rừng, mỗi người khoác trên vai balo khoảng 40 đến 50kg, có những người bị sốt rét trong rừng nên anh em đồng đội dìu nhau, khiêng nhau, vác hộ nhau vượt qua dãy núi. Hành quân hưn 03 háng, đại đội đã đến Kon Tum để bàn giao quân.
3.
Sau khi giao quân, ông được phân công về đơn vị K5- Trung đoàn 24 thuộc Bộ Tư lệnh B3, đóng quân tại tỉnh Đăk Lắk.
Vào đơn vị mới, điều khiến ông bất ngờ đầu tiên đó là quân số, trong đầu ông cứ nghĩ một đại đội sẽ đông tầm 50 đến 60 người như ở ngoài Bắc, nhưng thực tế ở đây chỉ có hơn 10 người. Ông có hỏi là tại sao ít thế, người đồng đội nói “anh em vừa đánh nhau về, giờ chỉ còn bằng này thôi”, trong lòng ông thấy buồn.
Vì là lính đặc công, nhiệm vụ của đơn vị ông là trinh sát, hàng ngày vào trong nhân dân để nắm tình hình quân địch, tình hình nhân dân đã theo địch, ông nhớ có một hôm, tổ công tác của ông đến nhà dân, nói chuyên rất vui vẻ, cởi mở nhưng khi tổ công tác vừa ra đến công, người nông dân liền ném lựu đạn về tổ công tác, rất may là không ai bị thương, hóa ra nhà dân đó đã theo địch.
Hàng ngày pháp bom dội như mưa, cứ 2 đến 3 tiếng lại có một trận, anh em chủ yếu nằm hầm, có những đợt 06 tháng mùa mưa không có quần áo mặc, khi đi ra trận thì mặc quân phục của mình, còn khi ở hầm thì mặc quần áo ngụy thu được sau mỗi trận chiến. Cuộc sống rất khổ, chủ yếu ăn cây môn thục, lá bứa nấu canh, mắm kem.
Tết 1973, đơn vị được cho quà tết, 02 người được 03 điếu thuốc và được phát quân trang. Nhưng khi xe quân trang đến, mở ra mới biết là nhầm quân trang nữ, anh em vẫn vui vẻ nhận và tự sửa để mặc.
4. Vết thương
Tháng 9 năm 1972, đánh trận Đức Cơ, Gia Lai, đại đội giao cho tiểu đội 2 – khi ấy ông là tiểu đội trưởng nhiệm vụ đi cắt đường, phục đánh địch từ Pleiku xuống đường 14. Phục đến ngày thứ 2, địch cho dọn đường đi, chúng có máy bay thả bom từ trên xuống, xe tăng bắn 02 bên. Trong quá trình chiến đấu, ông đã bị trúng mảnh pháo của địch, ông nằm tại chỗ 5-6 tiếng, sau khi đồng đội chiến đấu xong mới tìm thấy và khiêng ông về đơn vị chữa trị.
Khi vào bệnh xã dã chiến, do không có thuốc tê nên không mổ được do mảnh pháo găm vào giữ khe xương chân nên vết thương chỉ được vệ sinh băng bó, thấy vết thương tự lành ông về đơn vị. Được thời gian ngắn, vết thương bưng mủ, ông lại được đưa vào bệnh xá, lúc này đơn vị và các y sỹ quyết định trói ông lại và mổ không thuốc tê để gắp mảnh pháp ra cho ông, sau khi trải qua cảm giác xương xé thịt, khoảng hơn 01 tuần sau vết thương ổn ông tiếp tục phục vụ đơn vị chiến đấu.
5. Đưa cơm lên chốt
Một buổi sáng tháng 4 năm 1973, tại H10 Đắk Lắk, đơn vị được lệnh đánh địch nống ra, quân Việt công đã đánh và chiếm được chốt của địch, đơn vị cho 02 tiểu đội trực chốt nhưng đã hai ngày không được tiếp tế lương thực.
Đến ngày thứ 3, đơn vị cử ông đưa 03 đồng chí anh nuôi đưa cơm lên chốt, đang trên đường đi, ông vừa kể vừa chỉ cho 03 anh nuôi “Sáng đơn vị vừa đánh nhau ở đây”, khi vừa đưa tay chỉ thì thấy có 03, 04 lính ngụy đội mũ US đang giương súng về phía mình, ông hô to “Bắn”, một anh nuôi nhanh tay băn B40 thẳng vào phía quân địch, ông hô “RÚT”. Sau đó khoảng 03 phút thì bom đạn dội liên tục vào khu vực đó, ông về thấy áo bị thủng bên sườn, rất may không ai bị thương. 02 tiểu đội tại chốt vẫn không được tiếp tế cho đến 3-4 ngầy sau do địch bắn phá liên tục.
Trong 05 năm tại chiến trường Đắk Lắk, Gia Lai, việc chiến đấu với quân địch là thường xuyên. Quân địch bắn phá liên tục, có những người đồng đội đang ngồi nói chuyện với nhau và bất chợt hy sinh là chuyện xảy ra rất bình thường.
Tháng 3 năm 1975, khi chuẩn bị vào chiến dịch Hồ Chí Minh, ông được đại đội gọi lên yêu cầu chuẩn bị quân tư trang, súng đạn để nhận nhiệm vụ mới. từ Đắk Lắk ra Gia Lai, đến trạm tiếp đón thương bệnh binh thì Trạm trưởng thông báo “Tất cả các đồng chí ở đây không đủ sức khỏe để thâm gia chiến dịch nữa nên cho ra Bắc”, ông cùng đồng đội hành quân đến khoảng 25/4/1975 thì đến đơn vị Đoàn 72, Quân khu Việt Bắc đóng tại Tuyên Quang. Ông ở đây khoảng 06 tháng đến tháng 9/1974 thì xuất ngũ, chuyển ngành về làm việc tại Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái, thấng 10/2020 trước khi nghỉ hưu ông giữ chức vụ Chánh Tòa dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái.
Về địa phương ông là thương binh, làm Chi hội trưởng Hội Cựu chiến binh tổ 11, thị trấn Yên Bình, huyện Yên Bình, nay là thôn 7, xã Yên Bình.



