Ký ức đậm sâu của cụ ông Phạm Văn Đê
Ký ức đậm sâu của cụ ông Phạm Văn Đê, sinh ngày 01/01/1928, ở tuổi 98 trong ký ức hình ảnh thời chiến tranh, ngày được hòa bình vẫn luôn in sâu trong trí nhớ của ông. Ông là 1 trong những người trực tiếp tham gia những trận đấu làm nên lịch sử chiến thắng ngày xưa, khi kể về những cuộc chiến ông đã chứng kiến, hình ảnh những người anh em đã cùng ông chiến đấu ông giọng ông trầm xuống và đôi mắt đượm buồn. Ông kể rằng ngày ông theo tiếng gọi Tổ quốc, vai mang ba lô, chân bước vội theo đơn vị khi
Giữa cuộc sống yên bình ở tổ 15, ấp Hiệp Trung, xã Mỹ Thuận hôm nay, khó ai hình dung rằng hơn nửa thế kỷ trước, từ mảnh đất này, nhiều chàng trai tuổi mười tám, đôi mươi đã rời quê hương, khoác ba lô lên đường ra trận với khát vọng hòa bình và trách nhiệm thiêng liêng với Tổ quốc. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong ký ức của những người lính năm xưa, tiếng bom đạn, những cuộc hành quân xuyên rừng và tình đồng đội nơi chiến trường vẫn vẹn nguyên như mới hôm qua.
Ký ức đậm sâu của cụ ông Phạm Văn Đê, sinh ngày 01/01/1928, ở tuổi 98 trong ký ức hình ảnh thời chiến tranh, ngày được hòa bình vẫn luôn in sâu trong trí nhớ của ông. Ông là 1 trong những người trực tiếp tham gia những trận đấu làm nên lịch sử chiến thắng ngày xưa, khi kể về những cuộc chiến ông đã chứng kiến, hình ảnh những người anh em đã cùng ông chiến đấu ông giọng ông trầm xuống và đôi mắt đượm buồn. Ông kể rằng ngày ông theo tiếng gọi Tổ quốc, vai mang ba lô, chân bước vội theo đơn vị khi ông còn rất trẻ 9 năm chống Pháp
Sau khi được huấn luyện và trở thành 1 người lính ông tham gia cách mạng với một tinh thần sẵn sàng chiến đấu bất cứ lúc nào
Năm 1945- 1946, ông đi tả thanh nhà lánh, ông cùng tất cả anh em trong đội đánh nhà láng (đạo Hoà Hảo) bộ đôi cửu long rút về Mỹ Hiệp Sơn củ, Tây lần theo dấu vết và đánh quân ta, quân ta phản công đánh lại Tây, chết 9 người và bắt sống được 1 người
Tháng 10/1947, Tây ngoài sóc xoài chạy vào 9 chiếc tàu sắt, bộ đội ta phải đánh 1 ngày thì địch rút về. Tưởng chừng cuộc chiên đã dừng lại nhưng liên tiếp ào ạt Tây Ba Thê lại mang quân xuống đánh quân ta, quân ta đánh Tây và lấy được 4 cây súng, trong đó có 1 cây trung liên. Ông nhớ rất rõ
Năm 1950, thành lập đại đội dân quân ở địa phương . Đến năm 1952, cho số quân này đi học quân sự để sẵn sàng khi có cuộc chiên khác. Năm 1953, theo sự hướng dẫn của chỉ huy bắt đầu mở chiến dịch “Ba Dầu Phú Hoà”, ông cùng các đồng đội đi đánh đạo Hoà Hảo và giành thắng lợi vẻ vang
Đến năm 1945, thì tập kết, kết thúc chiến tranh
20 năm chống Mỹ
Nam 1954-1956, luật 10 59 Ngô đình diệm có kế hoạch dồn dân vào khu chùa mật, 1 số còn lại không ở lại được do giặc càng phá thường xuyên và bỏ địa phương trốn đi
Nam 1968, bộ đội khởi nghĩa đánh các tỉnh thành phía nam nói riêng là tỉnh long châu hà
Nam 1972, (mùa hè khói lửa), Mỹ càng quét địa phương: giết hãm con gái đàn bà, cướp bóc lúa, chiếm ruộng đất. Ông còn nhớ ông phải bỏ gạo vào những cái hủ thả trong dòng kênh ruộng để khi trốn có cái mà ăn chống đói, ông kể ông nấu gạo bằng lá sen, ông bọc gạo trong lá sen cho nước vào cùng và bọc đất phía ngoài đốt lửa nấu. Sau 1 thời gian quân ta đứng lên chiến đấu
Nam 1973, kí hiệp định ngưng bắn giữa Mỹ với cách mạng
Năm 1974, Mỹ k giữ lời hứa lật lại tấn công quân ta
Nam 1975, quân ta tổng tấn công, chiến đấu quyết liệt, Mỹ buông súng đầu hàng, kết thúc chiến tranh.
Cách mạng 30 chuẩn bị thành lập chi bộ Mỹ Hiệp Sơn củ
Nam 1930, Họp tại đìa chuối, chi bộ có 8 người: 5 Mầm, 3 Diệp, Út hậu, 8 Thiều, Phạm Văn Bứa, Phạm Văn Vốn, Hí Thị Hương, Phạm Văn Thấy
Sau chiến tranh, ông trở về quê với một niềm vui không thể nào diễn tả được. Ông nói: Đến giờ ông vẫn còn ám ảnh những tiếng súng, tiếng bom, con không thể hình dung được sự tàn khóc của chiến tranh như thế nào đâu. Nghe ông nói mà em cảm thấy trân trọng ông và những người anh hùng đã xã thân không màng nguy hiểm để bảo vệ nước nhà.
Qua câu chuyện của cụ ông Phạm Văn Đê với 1 phần thế hệ đoàn viên thanh niên ấp Hiệp Trung hôm nay, câu chuyện của ông không chỉ là một trang sử hào hùng mà còn là nguồn động lực to lớn. Cảm ơn ông và vô cùng biết ơn sâu sắc đến ông vì sự cống hiến và không màn nguy hiểm để chiến đấu hết mình vì một đất nước Hoà bình.



