Ký ức đường 9 và tình đồng đội xuyên biên giới
Thực hiện Đề án “Câu chuyện thời hoa lửa” do Ban Thường vụ Đoàn xã Tiên Lục triển khai, tôi – một người trẻ sinh ra khi đất nước đã hoàn toàn im tiếng súng – luôn tự hỏi: Điều gì đã làm nên sức mạnh phi thường để thế hệ cha anh có thể vượt qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt, kiên cường chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc?
Và rồi, câu trả lời ấy không ở đâu xa, mà hiện hữu ngay trong chính gia đình tôi, qua lời kể của một nhân chứng lịch sử đặc biệt – người ông nội kính yêu của tôi: Cựu chiến binh Đồng Xuân Lượt (Đồng Văn Lượt), người con của quê hương Nghĩa Hưng.
Mỗi lần nhìn ngắm kỷ vật được nước bạn Lào trao tặng, nay đã nhuốm màu thời gian, được gia đình gìn giữ trang trọng, trong lòng tôi lại dâng lên niềm xúc động và tự hào sâu sắc. Đó không chỉ là một phần thưởng ghi nhận công lao, mà còn là minh chứng cho một chặng đường chiến đấu đầy gian khổ, cho tình đồng chí, đồng đội keo sơn và tình hữu nghị thủy chung giữa hai dân tộc Việt Nam – Lào.
Những năm tháng khói lửa trên chiến trường Thượng Lào và Đường 9 – Nam Lào
Ngược dòng thời gian trở về những năm tháng chiến tranh ác liệt, khi tuổi đời còn trẻ và trái tim tràn đầy nhiệt huyết, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, ông tôi đã tạm biệt quê hương Bắc Giang lên đường nhập ngũ.
Ông được biên chế vào Tiểu đoàn 924, Trung đoàn 866, một đơn vị quân tình nguyện Việt Nam thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả trên đất bạn Lào. Cùng sát cánh với các chiến sĩ bộ đội Pa-thét Lào, ông và đồng đội đã trải qua những trận chiến sinh tử, chiến đấu bảo vệ những địa bàn chiến lược, góp phần giữ vững tuyến giao thông quan trọng Đường 9 – Nam Lào và các cứ điểm tại Cánh đồng Chum – Phu Cút (tỉnh Xiêng Khoảng, Thượng Lào).
Qua lời kể của ông bên hiên nhà quê, tôi như được trở về với một thời kỳ lịch sử đầy gian khổ nhưng vô cùng hào hùng. Trên mảnh đất Lào xa xôi năm ấy, những người lính tình nguyện Việt Nam phải đối mặt với bom đạn khốc liệt của kẻ thù, với những cơn sốt rét rừng dữ dội, với những cuộc hành quân xuyên rừng trong điều kiện thiếu thốn trăm bề.
Có những ngày, bữa ăn chỉ là nắm cơm đơn sơ, ngụm nước suối giữa rừng sâu. Có những đêm dài người lính phải nằm giữa đất trời lạnh giá, luôn đối diện với hiểm nguy rình rập.
Nhưng vượt lên trên tất cả là ý chí kiên cường, là tình yêu quê hương đất nước và tinh thần quốc tế cao đẹp. Chính tình đồng đội đã trở thành nguồn sức mạnh giúp những người lính trẻ năm ấy vượt qua ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết.
Nụ cười hiền hậu của ông nội ở tuổi xế chiều, nơi lưu giữ cả một thời hoa lửa oanh liệt
Trong những câu chuyện ông kể, có một người luôn để lại trong ông niềm kính trọng và xúc động sâu sắc – đó là Đại đội trưởng Nguyễn Hữu Thọ, người đồng hương của quê hương Hà Bắc xưa.
Theo lời ông, Đại đội trưởng Nguyễn Hữu Thọ là một người chỉ huy bản lĩnh, mưu trí, dũng cảm nhưng vô cùng gần gũi, thương yêu chiến sĩ. Trong những thời khắc cam go nhất của chiến trường, sự bình tĩnh, quyết đoán và tinh thần trách nhiệm của người chỉ huy đã trở thành điểm tựa vững chắc để cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị thêm vững lòng chiến đấu.
Ông vẫn nhớ những đêm nằm trong công sự giữa tiếng pháo kích dữ dội, đất đá phủ lên vai áo người lính. Trong hoàn cảnh sinh tử ấy, tình đồng đội được thể hiện qua từng hành động giản dị mà cao quý: chia nhau từng ngụm nước, nhường nhau manh áo ấm, động viên nhau vượt qua nỗi sợ hãi.
Chiến tranh đã khiến biết bao người lính trẻ mãi mãi nằm lại nơi chiến trường. Những triền đồi Cánh đồng Chum, Phu Cút đã hòa vào đó biết bao xương máu và tuổi thanh xuân của một thế hệ anh hùng.
May mắn trở về sau những năm tháng chiến đấu gian khổ, ông tôi và những người đồng đội năm xưa vẫn luôn giữ trọn tình nghĩa. Dù mái tóc đã bạc theo năm tháng, nhưng ký ức về một thời hoa lửa, về những người đồng chí đã từng cùng nhau vào sinh ra tử vẫn luôn sống mãi trong trái tim những người lính năm nào.
Họ chính là những chứng nhân lịch sử bằng xương bằng thịt, giúp thế hệ hôm nay hiểu hơn giá trị của hòa bình và sự hy sinh cao cả của cha anh.
Kỷ vật của lòng biết ơn và niềm tự hào. Sau ngày đất nước hòa bình, những đóng góp của ông tôi trong thời gian làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào đã được nước bạn ghi nhận bằng phần thưởng cao quý với dòng chữ: “Đã có thành tích giúp Cách mạng Lào”.
Tấm bằng khen nhuốm màu thời gian do nước bạn Lào trao tặng — Kỷ vật thiêng liêng và niềm tự hào vô giá của gia đình.
Đối với gia đình tôi, đó không chỉ là một kỷ vật, mà còn là biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm và tình hữu nghị Việt Nam – Lào thủy chung son sắt.
Mỗi lần đứng trước kỷ vật ấy, tôi càng thấm thía rằng: Hòa bình hôm nay không phải điều tự nhiên mà có. Đó là thành quả được đánh đổi bằng tuổi trẻ, bằng mồ hôi, nước mắt và cả sự hy sinh của biết bao thế hệ đi trước.
Là một giáo viên, một đoàn viên trẻ, tôi luôn tự nhủ rằng mình có trách nhiệm gìn giữ và lan tỏa những câu chuyện lịch sử ý nghĩa ấy đến các em học sinh thân yêu.
Tôi muốn các em hiểu rằng, phía sau những trang sách lịch sử không chỉ là những con số, những sự kiện, mà còn là cuộc đời của những con người bình dị đã sống, chiến đấu và hy sinh vì Tổ quốc.
Câu chuyện về ông tôi – người chiến sĩ của Tiểu đoàn 924, Trung đoàn 866, về những người đồng đội trên chiến trường Thượng Lào và Đường 9 – Nam Lào sẽ mãi là ngọn lửa truyền thống soi sáng các thế hệ mai sau.
Hôm nay, cô bé cháu nội năm nào đã trưởng thành, trở thành một giáo viên tiểu học, ngày ngày đứng trên bục giảng gieo những hạt mầm tri thức. Tôi hiểu rằng, nhiệm vụ của mình không chỉ là dạy các em con chữ, mà còn là vun đắp trong các em lòng biết ơn, niềm tự hào dân tộc và tình yêu quê hương đất nước.
Những ký ức thời hoa lửa của ông sẽ mãi là hành trang quý giá theo tôi trong suốt cuộc đời.
Xin cảm ơn ông – người chiến sĩ tình nguyện kiên cường, người anh hùng bình dị và cũng là niềm tự hào lớn nhất trong trái tim con cháu hôm nay.



