Ký Ức Giọt Máu Trên Đường Dây
Ông nhập ngũ ngày 22 tháng 8 năm 1971, huấn luyện ở Bắc Thái, rồi đến Hà Bắc, ông trải qua những tháng ngày huấn luyện gian khổ trước khi bước vào chiến trường miền Nam đầy khốc liệt. Những năm tháng chiến đấu, ông cùng đồng đội đi qua không biết bao nhiêu trận đánh, mỗi trận đều in hằn mất mát, máu và nước mắt. Nhưng có một ký ức mà đến tận bây giờ – dù đã mấy chục năm trôi qua – ông vẫn nhớ in như mới hôm qua. Đó là ngày 8 tháng 10 năm 1973, trận đánh ở Chư Dệt, phía Nam thị xã Kon Tum

Hồi ấy, ông thuộc Trung đoàn 66, giữ nhiệm vụ tiểu đội phó tiểu đội đường dây – thông tin hữu tuyến. Đơn vị ông nhận lệnh đánh địch lấn chiếm hậu cứ của Trung đoàn 95. Tối hôm ấy, khi tới nơi tập kết, mọi người kịp đào tạm vài đoạn hào trú ẩn; sáng sớm hôm sau cả đơn vị bắt đầu nổ súng. Ông được phân công ở lại trực tổng đài. Còn đồng chí Cầu – người Hà Tĩnh, chiến sĩ của tiểu đoàn 2 bộ hữu tuyến – được giao nhiệm vụ kéo đường dây đi theo khẩu cối 82 ly của Đại đội 12, Tiểu đoàn 9.
Khi đồng chí Cầu kéo dây đi vào đến trận địa thì thấy tiếng nổ rất nhiều và hai bên đã bắn bằng hảo lực cũng như là súng bộ binh, từ vị trí trực máy, ông chỉ nghe thấy tiếng đạn pháo gầm rú, tiếng súng bộ binh hai bên nổ ran dội cả vào tai nghe. Ruột gan như lửa đốt. Một lúc sau, đồng chí Cầu gọi về báo rằng khẩu đội cối của C12 đang bị phản pháo dữ dội, nhiều người đã bị thương. Ông lập tức báo tiểu đoàn, tiểu đoàn lệnh trả điện là cho khẩu cối rút xuống ven suối để giảm thương vong. Nhưng khi ông gọi lại thì… đầu dây bên kia hoàn toàn im lặng. Linh cảm có chuyện chẳng lành, ông nói với đồng chí Chiến – tiểu đội trưởng:
- Anh trực máy để tôi xuống xem. Không biết đứt dây, hỏng máy… hay đồng chí ấy bị thương rồi!
Một tay ông nắm chặt quả lựu đạn US, tay kia xách túi vải, 2 nắm cơm. Vừa men theo đường dây vừa lao đi giữa tiếng nổ rung trời. Đến nơi, ông thấy xác chiến sĩ nằm rải rác, phải nhảy qua từng thi thể để chạy tiếp. Trận địa khẩu đội cối tan hoang. Một vài đồng chí bị thương đang cố chạy ra ngoài. Rồi ông nhìn thấy Cầu.
Đồng chí Cầu nằm sấp trên chiếc máy thông tin, ruột gan vương ra ngoài, máu me be bét vì trúng mảnh pháo. Tay anh vẫn nắm chặt tổ hợp máy, mắt mở trừng trừng nhìn lên như còn muốn gọi thêm một tín hiệu cuối cùng. Ông lật người Cầu lại nhưng... đồng chí đã hy sinh.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Nỗi xót xa chặn nghẹn trong ngực, nhưng ông không kịp khóc. Địch đang phản pháo dữ dội, lại thêm một quả pháo nữa bắn trúng, ông cảm thấy nóng rát ở vai và tay vì trúng mảnh đạn.Một mảnh pháo sượt vào áo ông nhưng rất may bị chiếc ví cản lại, may mắn thoát hiểm. Gần đó, đồng chí Khánh – sau này cũng về cùng quê với ông – giơ bàn tay lên, ngón đã đứt lìa. Dù bị thương, hai anh em vẫn cố kéo bằng được thi thể đồng chí Cầu ra khỏi trận địa, vì địch đã áp sát. Nhiều lần bom pháo dội xuống, đất đá lấp kín cả người, cả hai lại vùng dậy, dốc sức kéo đồng đội mình đi. Ra đến nơi tương đối an toàn, ông chạy về trạm tổng đài, lấy võng, tấm tăng rồi quay lại. Không có thời gian, họ đào vội một cái hố nông chừng bốn – năm mươi phân giữa rừng núi hoang vắng, bọc đồng chí Cầu trong tấm tăng và chôn cất tạm. Chôn xong, đơn vị buộc phải rút lui vì lực lượng đã thương vong quá nhiều, hỏa lực không thể cầm cự. Ông không biết sau này có đơn vị nào quy tập được hài cốt đồng chí Cầu hay không. Có lẽ anh đã mãi nằm lại nơi đất khách, xương cốt hòa vào đất rừng Kon Tum, chẳng biết bây giờ còn hay đã bị thú rừng đào bới mất
Nhiều năm trôi qua, đến nay mảnh đạn ấy vẫn còn găm trong vai, mỗi một lần vết thương ấy đau nhức lại là một lần ông nhớ về những đồng đội, nhất là đồng chí Cầu – người chiến sĩ trẻ hy sinh đau đớn, không kịp trăn trối điều gì – nhắc đến đây mắt ông lại đỏ hoe. Ông bảo rằng những năm tháng chiến tranh ấy là nỗi ám ảnh chẳng bao giờ nguôi: tiếng pháo nổ, ánh mắt người nằm xuống, những nấm mộ vội vã, những đồng chí mãi mãi không trở về.
Nhưng cũng từ đó, ông hiểu sâu sắc ý nghĩa của hòa bình. Và biết rằng, để có được cuộc sống hôm nay, biết bao người lính trẻ đã nằm xuống giữa đại ngàn, để cho những người như ông – và cả con cháu sau này – được sống trọn vẹn.



