Người có công giúp đỡ cách mạng

KÝ ỨC HÀNH QUÂN VÀ CHIẾN ĐẤU TẠI CHIẾN TRƯỜNG CÁNH ĐỒNG CHUM – XIÊNG KHOẢNG, TRUNG LÀO

HÀ VĂN BÀN, sinh năm 1953, hiện nay cư trú tại thôn Thị Tứ, xã Võ Lao, tỉnh Lào Cai. Đã từng tham gia các chiến trường: - 1972 – 1973: Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng (Trung Lào) - 1975 – 1976: Tây Nguyên – Chiến dịch Hồ Chí Minh - 1979 – 1980: Bảo vệ Tổ quốc / tỉnh Lào Cai - 1988 – 1989: Bảo vệ Tổ quốc – Hà Giang Bài viết dưới đây là hồi ức ngắn về quá trình hành quân và chiến đấu tại chiến trường Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng (Trung Lào)

Lào Cai17/12/2025BÀN THỊ DIỆN (Xã Võ Lao)4 lượt xem0 lượt chia sẻ
KÝ ỨC HÀNH QUÂN VÀ CHIẾN ĐẤU TẠI CHIẾN TRƯỜNG CÁNH ĐỒNG CHUM – XIÊNG KHOẢNG, TRUNG LÀO

Đến nhà bác Hà Văn Bàn lúc này đã hơn 09 giờ sáng, chúng tôi ngồi cùng bác dưới mái nhà sàn nghe bác hồi tưởng lại ký ức đời lính của mình, bác kể:

“Nhập ngũ tháng 3/1972 (năm 19 tuổi). Từ tháng 3-4/1972 đóng quân tại Đại đội 9, Tỉnh đội Yên Bái, từ tháng 5-8/1972 Huấn luyện tại Tiểu đoàn 61, Sư đoàn 304B (đóng quân ở Phú Bình, Thái Nguyên).

Do yêu cầu chiến trường, các đơn vị binh quân chủng thường xuyên tuyển chọn, đơn vị phát động viết đơn tình nguyện ra chiến trường, đơn vị nêu gương có đồng chí ký đơn bằng “máu”. Sau 2 tháng huấn luyện tân binh, đơn vị nhận lệnh hành quân ra Ga Lương Sơn vào một buổi chiều, lên tàu xuống ga Yên Viên Gia Lâm, xuống Phà Chương Dương cập bến thì đơn vị lên bờ đi bộ qua chợ Đồng Xuân, Hồ Gươm, Ga Hàng Cỏ lên tàu xuống Thượng Tín rồi đóng quân ở nhà dân. Lần đầu tiên tôi đến Hà Nội, ban đêm thường xuyên có báo động máy bay. Về Hà Tây dân nấu bếp bằng rơm rạ, thanh niên luộc ốc bỏ túi để đi xem phim ăn dần, bộ đội thường mang củi cho dân.

Ngày 10/8/1972 đơn vị lên tàu hành quân đi qua Thanh Hóa; đến Kỳ Sơn (tỉnh Nghệ An), tại Mường Xén đơn vị được đóng quân, nghỉ lại nhà dân và lán sơ tán trong 1 tuần để tiếp tục ổn định biên chế, làm công tác dân vận, bổ sung trang bị vũ khí và được ăn Tết 2/9 sớm vào ngày 28/8/1972 trong bản Tày – Hàng Tổng.

Ngày 01/9/1972 đơn vị được lệnh và chính thức hành quân sang Lào. Lúc này ngoài trời mưa rất to, suối lũ về ầm ầm, lệnh hành quân vượt sông Nặm Cắn đi bằng phà sắt mỗi chuyến được chục người và trang bị. Sau nhiều ngày đi đường đơn vị đến thị xã Xiêng Khoảng, gọi là Thị xã nhưng nơi đây đã bị cày đổ ngổn ngang do bom đạn, có vài nhà chùa, nhà dân xây lập ngói đổ tan hoang chỉ còn lại bức tường. Ở đây đơn vị được lệnh nghỉ 03 ngày, các anh rủ nhau đi đêm ra bản lấy quả Mác coọc, lê, quýt,… không một bóng người dân. Đơn vị đến nhận quân do anh Khoa (người Nghệ An) làm quân lực d6-E148, anh Khoa tốt tính và rất quý tôi, cùng ngủ với tôi mấy ngày, tôi tặng anh chiếc mũ tai bèo.

Cũng từ đây chúng tôi chính thức chia tay với cán bộ khung huấn luyện phiên hiệu đại đội 3 – Tiểu đoàn 61 – Sư đoàn 304B, chia tay anh Thắng tôi tặng anh chiếc mũ cối làm kỷ niệm, các anh quay ra miền Bắc, chúng tôi về với đơn vị chiến đấu d6-E148-F316 đang hoạt động tại cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng. Lần đầu được nghỉ nơi chiến trường, ngủ hầm kèo, đêm đêm nhìn về hướng Tây thấy máy bay vận tải C130 của Mỹ nhả đạn lửa loại 20 ly 4 nòng xuống đồi Phu-seo do một đơn vị quân tình nguyện chốt giữ.

Trong thời gian từ đầu tháng 9/1972 đến cuối tháng 11/1972 tôi tham gia nhiều trận đánh lớn nhỏ, trong đó có 6 trận đánh là ác liệt hơn cả. Tháng 9/1972 tham gia đánh địch nống lấn ở Bản Khổng (lúc này tôi là chiến sỹ A1 c9/d6/E148 tân binh mới vào được 02 ngày); tham gia đánh địch nống lấn ra đồi Vành Khăn, Nam Phu-Seo, trận mặt tập không thành công, ta bị thiệt hại lớn. Tháng 10/1972, trải qua 2 trận đánh hiệp đồng binh chủng điểm cao 1236-1239, cả hai trận trận này ta thắng lợi. Tháng 11/1972 đánh hiệp đồng với Trung đoàn 174 chiếm cao điểm 1978 – lúc này tôi được bổ nhiệm là Tiểu đội trưởng”.

Trận đánh tại cao điểm Vành Khăn tháng 9/1972

Bác nhớ lại trận đánh thứ hai trong tháng 9/1972, đơn vị nhận được lệnh đánh địch nống lấn cao điểm Vành Khăn, Nam Phu-seo nơi địch chăn đường vận tải bộ tiếp tế của ta vào bên trong Phu-pha-say, đơn vị quyết định cơ động đánh mặt tập (tiếp cận sát mục tiêu, đồng loạt nổ súng, lấy b40-41 trên hướng chủ yếu làm hiệu lệnh xung phong thẳng vào đội hình địch phòng ngự). Bác kể: “Do thiếu sót của trinh sát, đơn vị hành quân cả đêm vào chiếm lĩnh thì động phải con Hoẵng kêu toác, thế là lộ hướng đi, địch bắn pháo sáng vun vút và tập trung súng cối 61 ly, lưu đạn,… tập trung bắn vào hướng đơn vị đang đi, may mắn không ai bị thương. Nhưng địch cảnh giác nên đã tăng thêm quân, trời lúc này còn tối lắm, ta không thay đổi cách đánh tiếp tục đưa đội hình vào vị trí xuất phát xung phong. Khi trời mờ sáng ta đồng loạt nổ súng, đất trời mù sương, địch phản kích mạnh, hướng chủ yếu của ta bị chặn, thương vong nhiều, buộc tiểu đoàn phải chi viện 12,7 ĐKz lực lượng mới lui quân được qua địa hình trống trải vào rừng thông. Đơn vị ta thương vong nhiều hy sinh 03 đồng chí, mất tích 03 đồng chí và nhiều đồng chí bị thương, trong đó có anh Giàng Seo Chà bị cụt chân, đội hình “hướng đưa người, hướng đưa chân” chạy qua bãi lầy bị địch bắn đuổi may không có ai thương vong thêm. Trận này ta thất bại, tinh thần trong quân có vài phần sa sút phải nghỉ củng cố vài ngày. Tháng 9 đánh hai trận, một thắng một thua, tôi cũng thấy buồn và sợ, đêm ngủ cùng anh Dinh – Đoan mà vẫn thấy lạnh người, phải đốt nến cả đêm ngoài cửa hầm”.

Bác kể tiếp: “Trong những ngày còn lại máy bay trinh sát L19 của địch lượn trên không cả ngày nghi đâu có quân ta là bắn pháo khói chỉ điểm cho máy bay T-28 đến ném bom, cứ ném hết 4 quả là bay đi. Đêm đến loại C130 vận tải săn điện tử và bắn vào các kho trạm của ta ngoài cánh đồng Chum, đơn vị liên tục di chuyển vị trí đóng quân để tránh bom B52 dải thảm”. Bác cảm thán “Chiến trường lúc ấy thật khủng khiếp và ác liệt”.

Hại trận đánh cao điểm 1236 – 1239 tháng 10/1972

Bác tiếp lời: “Trung tuần tháng 10/1972, Đại đội 9 chốt ở Phu-xen-luông quan sát thấy địch sử dụng 4DM – 21 phỉ vàng pao, 23 Ngụy quân, 24 vua mũ đỏ, DM32 chư hầu Thái Lan tập trung hai hướng chính từ Sảm Thông – Phu vai Nặm cọ, Tây Nam Phu hả sạng lên Bản Hai cánh đồng cán xẻng hòng tái chiếm cánh đồng Chum trước mùa khô. Quân họ đi đến đâu có trực thăng, C130 thả hàng pháo binh, máy bay đánh dọn đường, gần tối thì chúng tập trung lại nấu nướng khói um cả vùng. Trung tâm chỉ huy của chúng đặt tại cao điểm 1236-1239.”

Thực hiện nhiệm vụ chiến dịch mùa khô, đơn vị rút về chân bản Mèo, bổ sung nhiệm vụ chặn địch nống lấn. Sau thời gian trinh sát, nắm tình hình địch, đơn vị hành quân luồn sâu vào triển khai đội hình ở chân điểm cao 1236, đơn vị vào tuyến xuất phát tiến công sớm hơn để đảm bảo bí mật, bất ngờ. Từ lúc bắt đầu nổ súng, cuộc giao tranh giữa ta và địch diễn ra khoảng 50 phút thì ta chiếm đỉnh cao 1236, phát triển sang 1239 địch bỏ chạy, Trung đội 1 của Bác được lệnh truy kích địch chạy về hướng Bản Xua-na-van, rồi thu quân chốt giữ.

Bác tiếp tục trầm giọng kể: “Đại đội 9 (Đại đội của Bác) nhận lệnh thay chốt C10 ở Phu-xen-luông lần 2. Đến ngày 23/10/1972 cấp trên thông báo địch tiếp tục tăng quân lấn chiếm vùng giải phóng cắm cờ phân tuyến với ta, những ngày vừa qua, Trung đội 1 của bác có Bác và một anh tên Dinh, ngày đêm canh gác căng như dây đàn để nghe ngóng tình hình địch. Thời điểm này đơn vị nhận lệnh bàn giao chốt cho C10 về bản Mèo cùng đơn vị làm công tác chuẩn bị cho chiến dịch phản công toàn tuyến”.

Sau khi chuẩn bị kỹ lưỡng, bổ sung quân lực đầy đủ ta tức tốc hành quân sâu vào điểm cao 1236, trận này ta tiến công địch bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng diệt được nhiều địch và dành chiến thắng. Bác nhớ lại: “Lúc ấy tiếng nổ ì ầm, từng loạt pháo sáng bắn lên vun vút. Trong trận chiến bác gặp ông Hoàng Văn Mươn trong chiến hào, ông Mươn có hỏi “Bàn ơi còn nước không chia tớ với”, Bác có chia nước và phong lương khô cho ông Mươn. Sau đó đơn vị ông Mươn đi truy kích địch ở hướng Nằm Cọ; còn Bác và “anh Chiến” xuống Tây Nam 1239, trong trận đánh này bác và đồng đội bắt được hai tù binh (là người Thái Lan) đưa lên đỉnh mới chiếm được bàn giao cho vận tải cai. Phía đông nam còn một toán địch bị ta bao vây co cụm ở một đồi không tên, ta gọi hàng cả ngày đến gần chiều tối chúng không đầu hàng bên ta quyết định công kích, dập pháo, bộ binh xung phong và diệt gọn bọn chúng. Kết thúc trận chiến bác quay lên đồn thì nghe tin dữ - Mươn đã hy sinh khi truy kích địch, dù chiến thắng nhưng vẫn còn nhiều đồng đội đã ngã xuống, tiếc thương lắm”. Những ngày sau đó đơn vị của Bác rút về tập kết tại hang Phu-le gần hang Loa kèn để củng cố lực lượng và bổ sung tân binh, nhớ ngày ấy lương thực chưa kịp tiếp tế nên đơn đi đào củ mài, hái rau khoai mon, bắt cá suối ăn qua những ngày bom đạn.

Trận đánh hiệp đồng với Trung đoàn 174 chiếm cao điểm 1978

“Cuối tháng 11/1972, địch nống ra điểm cao 1900, hin đăm thẳm lửng 1978. Tiểu đoàn 6 tiếp tục nhận nhiệm vụ diệt địch, chống nống lấn, bác nhớ hôm ấy trời mưa rất to, bộ đội ta hành quân tiếp cận địch trong đêm mưa, rồi căng ni lông chờ trời sáng đợi lệnh tấn công. Trận này ta thắng chiếm được điểm cao nhưng cũng nhiều đồng chí hi sinh, tiểu đội của bác hi sinh đồng chí Lò Văn Chom - Tiểu đội trưởng và nhiều đồng chí bị thương, bác lên Tiểu đội trưởng. Sau khi nhận lệnh bàn giao chốt cho E174, đơn vị bác hành quân quay về hang Phu – le làm lực lượng dự bị cho Trung đoàn.”

…..

Giọng bác nhẹ nhàng tiếp tục hồi tưởng về năm tháng tuổi trẻ: “Tết đầu tiên ở chiến trường, đơn vị lấy hoa chuối, hoa ban thay rau cháu ạ! Sang năm 1973 đơn vị bác chủ yếu tập trung củng cố lực lượng, huấn luyện quân sự, học tập chính trị và thường xuyên cơ động thay phiên trực các chốt của ta. Bác nhớ có lần để cải thiện cho anh em đơn vị nên bác đi cùng với anh Nhật đen – người Hà Bắc đi lấy ong làm tổ trên vách đá, do không trèo được nên chặt cây “sặt” nối lên để chọc tổ, người chọc, người cầm tăng hứng mật được đầy cả thùng lương khô (thùng hay dùng để đựng lương khô), đang chọc thì không may cây sặt bị đứt nối đoạn trên rơi thẳng vào chân anh Nhật, bị thương phải cõng nhau về…”

Đến cuối năm 1973 tình hình Lào ổn định, đơn vị nhận lệnh hành quân quay về Nghệ An, rồi đóng quân ở Khai Sơn, Long Sơn, Long Phúc. Tết năm 1973 Bác cũng được đơn vị cho phép về quê ăn Tết cùng gia đình rồi tiếp tục trở lại đơn vị.

Trong lúc kể về chiến trường cánh đồng Chum, Bác có nói với chúng tôi:“Đột đâu – Thắng đấy có C9/d6/148; Lóng chúng, chốt chặt có E174”.

Dấu ấn không phai: Giữa mênh mông khói lửa của chiến trường Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng, đã hình thành nên những đơn vị anh hùng, được đồng đội và chiến trường ghi danh bằng niềm tin sắt đá. “Đột đâu – Thắng đấy có C9/d6/148; Lóng chúng, chốt chặt có E174”không chỉ là một câu truyền miệng, mà là sự đúc kết từ thực tiễn chiến đấu khốc liệt, nơi máu và lòng dũng cảm hòa làm một. C9/D6/148 luôn là mũi nhọn xung kích, xuất hiện ở những điểm nóng nhất, đánh nhanh, đánh hiểm, mở toang cánh cửa chiến thắng. E174 lại lặng thầm bám trụ, kiên cường giữ chốt, ghìm chân và bẻ gãy mọi mưu đồ tiến công của địch. Một bên sắc bén như lưỡi gươm xung phong, một bên vững vàng như thành đồng phòng ngự, tất cả đã hợp thành sức mạnh bất khuất của Quân đội nhân dân Việt Nam, để lại dấu ấn không phai trong ký ức chiến trường và trong lòng các thế hệ hôm nay và mai sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn