KÝ ỨC KHÁNG CHIẾN QUA LỜI KỂ CỦA ÔNG HOÀNG XUÂN HẢI
Tôi là Hoàng Xuân Hải. Năm ấy, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, tôi mới ngoài đôi mươi, tuổi đời còn trẻ nhưng lòng thì đã sục sôi ý chí đánh giặc cứu nước. Ngày đó, quê hương tôi còn nghèo lắm. Làng xóm tiêu điều vì bom đạn, ruộng đồng bỏ hoang, đêm đến chỉ le lói ánh đèn dầu. Nhưng chính trong những năm tháng gian khó ấy, tinh thần yêu nước của bà con lại càng bền chặt hơn bao giờ hết. Nghe theo tiếng gọi của Đảng, của Bác Hồ, tôi cùng nhiều thanh niên trong làng hăng hái tham gia đội du kích, rồi trở thành dân quân kháng chiến.
Vũ khí của chúng tôi khi ấy thô sơ lắm. Người có súng thì ít, còn lại chủ yếu là giáo mác, dao găm, lựu đạn tự tạo. Ban ngày chúng tôi cải trang làm nông dân, ban đêm lại tập trung họp bàn cách đánh giặc, canh gác làng xóm, bảo vệ cơ sở cách mạng. Có những đêm mưa rét, tôi cùng đồng đội nằm phục kích hàng giờ liền, người ướt sũng, bụng đói meo nhưng không ai nản chí. Tôi nhớ nhất là những lần tham gia tải lương, chuyển thư, đưa cán bộ vượt qua các trạm gác của địch. Mỗi chuyến đi đều đối mặt với hiểm nguy, chỉ cần sơ sẩy là có thể bị bắt, bị tra tấn hoặc hy sinh. Có lần, tôi và anh em bị địch càn quét bất ngờ, phải lẩn trốn trong rừng suốt mấy ngày liền, sống nhờ củ rừng và nước suối. Gian khổ là thế, nhưng trong lòng ai cũng chỉ có một suy nghĩ: còn sống là cònchiến đấu cho đến ngày đất nước độc lập.
Trong kháng chiến, điều khiến tôi xúc động nhất chính là tình quân dân. Bà con trong làng dù thiếu ăn vẫn sẵn sàng nhường cơm, sẻ áo cho bộ đội, che giấu cán bộ, nuôi giấu du kích. Nhiều cụ già, phụ nữ và cả thiếu niên đã âm thầm góp sức cho cách mạng bằng những việc làm nhỏ bé nhưng vô cùng lớn lao. Khi chiến thắng dần đến, thực dân Pháp buộc phải rút lui, tôi cùng đồng đội ôm chầm lấy nhau trong niềm vui vỡ òa. Bao nhiêu mất mát, hy sinh cuối cùng cũng được đền đáp bằng nền độc lập mà cả dân tộc hằng mong ước.
Giờ đây, ở tuổi xế chiều, mỗi khi nhớ lại những năm tháng kháng chiến chống Pháp, tôi vẫn tự hào vì mình đã được sống, được cống hiến một phần tuổi trẻ cho Tổ quốc. Tôi chỉ mong thế hệ trẻ hôm nay luôn ghi nhớ công lao của cha ông, ra sức học tập, rèn luyện để xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, xứng đáng với những hy sinh của lớp người đi trước.



