Cựu chiến binh

KÝ ỨC KHÓ PHAI VỀ NHỮNG NĂM THÁNG LỬA ĐẠN

KÝ ỨC KHÓ PHAI VỀ NHỮNG NĂM THÁNG LỬA ĐẠN

Vĩnh Long09/12/2025Đào Thị Yến - Đoàn TNCS xã Bờ Y (Xã đoàn Thạnh Hải)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

HÀNH TRÌNH CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC CỦA CỰU CHIẾN BINH BÙI VĂN QUỸ: KÝ ỨC KHÓ PHAI VỀ NHỮNG NĂM THÁNG LỬA ĐẠN

Ông Bùi Văn Quỹ (sinh năm 1944) - người lính thuộc Trung đoàn 174, đã có những tháng năm chiến đấu gian khổ, kiên cường từ Tây Bắc đến Tây Nguyên, góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Từ Tây Bắc đến chiến trường Tây Nguyên: Cuộc hành quân "cõng" 50 cân trên lưng

Trong căn nhà nhỏ, với chiếc áo cựu chiến binh trên người, ông Bùi Văn Quỹ kể lại hành trình nhập ngũ của mình. Ông đi luyện quân vào tháng 5 và được huấn luyện 3 tháng ở Tây Bắc, thuộc Sư đoàn 36. Sau đó, ông chuyển sang Trung đoàn 174. Năm 1966, ông cùng đơn vị bắt đầu cuộc hành quân lịch sử từ Tây Bắc vào Tây Nguyên.

Đây là một hành trình gian khổ, kéo dài gần 3 tháng. Đơn vị ông lấy bí danh là "Công trường 18 đoàn 5 thắng". Mỗi người lính phải mang vác trang bị nặng nề, khoảng 45 đến 50 cân trên lưng, suốt ngày đêm. Việc hành quân chủ yếu bằng đường bộ.

Những điều kiện khắc nghiệt của chiến trường được ông kể lại rõ ràng:

· Ăn uống: Lính tráng phải ăn trên đường hết. Họ chỉ được nghỉ 1 ngày sau mỗi 4 ngày hành quân. Lương thực, thực phẩm được phân phát hạn chế, đặc biệt là muối và mắm tôm. Ông kể về những củ sắn to bằng bắp chân mà chuột đã ăn hết ruột, nhưng lính vẫn cố gắng mang về.

· Nước uống: Để chống lại cơn khát, bộ đội phải uống nước bằng cách hứng nước mưa bằng vạt áo mưa. Nước được lọc bằng một viên thuốc nhỏ như viên B1.

· Nơi ở và sinh hoạt: Lính đi bộ từ Hòa Bình , qua đất nước Lào. Ban đầu hành quân đêm, nhưng khi vào Trường Sơn thì đi bằng ngày.

Mùa mưa 1966-1967 và ký ức về Đăk Tô – Tân Cảnh

Ông Quỹ tham gia chiến đấu ngay khi vừa đặt chân đến Tây Nguyên. Ông tham gia Chiến dịch mùa mưa năm 1966-1967. Sau đó, ông chuyển về hậu cứ huấn luyện và năm 1968, đơn vị ông tham gia đánh ở khu vực Đăk Tô – Tân Cảnh.

Năm 1968 là năm ác liệt nhất, nhiều đồng đội đã hy sinh. Tiểu đội của ông lúc đó khoảng 12 người, nhưng sau chiến dịch chỉ còn lại 3-4 người. Nỗi đau mất mát hằn sâu trong ký ức ông qua câu chuyện cáng thương:

"Hôm đánh Đăk Sút là đang ra chiến dịch, đang khắp chỗ nổ súng. Tiểu đội tôi một đồng bị địch giết chết. Thế tôi mới một đứa được cử khiêng về phía sau. Lúc đó đi khiêng... gần 2 đêm 2 ngày. Thằng chết nằm giữa, hai thằng sống nằm hai bên."

Việc vận chuyển đồng đội hy sinh vô cùng cực khổ. Họ phải đặt cáng xuống, quay đầu để đổi vai , đi trên những con đường dốc, hiểm trở.

Do sốt rét quá nặng, ông Quỹ sau đó được chuyển về bên bảo vệ, phục vụ Bộ Tư lệnh B3.

Giấy báo tử nhầm và sự phục viên

Trong những năm tháng chiến đấu ác liệt (khoảng năm 1968, 1969) , ông Bùi Văn Quỹ từng bị báo tử nhầm. Ông chỉ biết chuyện này khi ra ngoài Bắc và được người làm an ninh kể lại rằng gia đình đã chuẩn bị chế độ liệt sĩ.

Ông tiếp tục phục vụ đến năm 1974, thì được phục viên do bệnh tật. Bệnh tiểu đường của ông phát triển nặng sau này.

Những kỷ niệm về sự hy sinh của đồng đội, những năm tháng "ăn rừng, ngủ núi" gian khổ là minh chứng sống động cho tinh thần anh dũng của thế hệ đã làm nên chiến thắng lịch sử.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn