Cựu chiến binh

KÝ ỨC KHÔNG KHÉP LẠI CỦA CỰU CHIẾN BINH

Lào Cai23/12/2025Chi đoàn Phòng Cảnh sát QLHC về TTXH (Công an tỉnh Lào Cai)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Buổi chiều đầu đông, trong ngôi nhà nhỏ nơi Thôn Khoán Púng, xã Sín Chéng, tỉnh Lào Cai ông đã qua tuổi bảy mươi chậm rãi pha ấm trà nóng, mời khách bằng nụ cười hiền mà rắn rỏi. Đó là ông Thèn Chẩn Dìn, cựu chiến binh từng chiến đấu ở cả hai chiến trường Việt Nam - Lào trong những năm tháng nóng bỏng nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Chuyện cũ còn nhớ được gì, tôi kể hết, ông cười, mắt ánh lên sự bình thản của người đã đi qua những năm tháng mà mỗi ngày đều đối mặt ranh giới mong manh giữa sống và hy sinh.

Từ bản làng lên đường bước chân thanh niên tuổi hai mươi.

Ông Dìn kể rằng ngày nhập ngũ tháng 02/1972, đóng quân C962-Lào Cai, ông mới tròn 20 tuổi. Lúc ấy, trong bản chỉ nghe tiếng loa tuyên truyền và thấy những thanh niên lớn hơn lần lượt khoác ba lô đi bồ đội. Ông bảo: “Tôi nhớ mãi cảnh mẹ đứng ở cửa nhìn theo. Mẹ khóc nhiều, nhưng vẫn dặn: ‘Đi đi con, đất nước cần. Mẹ ở nhà giữ bản làng.” Câu đó theo tôi suốt cả cuộc đời lính.”

Tháng 5/1972 đi vào Sư Đoàn 64 năm đấy Mỹ đánh Khu Gang thép Thái Nguyên - đến ngày 12/8/1972 đóng quân Trung đoàn 289 Công binh thành lập lại Trung đoàn 279, (gọi là Đoàn tháng Tám), huấn luyện tại Huyện Việt Yên -Tỉnh Hồ Bắc, đến tháng 9/1972 tham gia mở đường Hòa bình cho xe tăng đi vào Chiến trường gọi là Sông Bội thời đấy may bay đánh phá nhiều, đến năm 1972 đi Sang Lào tham gia làm nhiệm vụ quốc tế Lào làm sân bây (tại tỉnh Sập Hưng) làm xong giao cho Lào (gọi là Hăng Trung ương - Hăng núi To).

Tháng 5/1973 đi vào Giang Bắc - Thanh Hóa - ở đấy ăn dưỡng 15 ngày sau đó đi vào Bắc Ninh (Vịnh 10) vào Thanh Hóa huấn luyện, đến năm 1974 vào huyện Hưng Sơn - Hà Tĩnh tham gia làm con đường 15C được tặng kỷ niệm Chương sư đoàn 15C (gọi là đường Hồ Chí Minh) đến Năm 1975 đang ăn tết sau đó tiếp tục đi Sang Lào vào Sa La Văn, Sa La Khịch vừa làm đường vừa gỡ bon, gỡ Mìn, đi vào Nam đi đường 13 Tây nguyên - Đồng Soài - Tỉnh Phước Long, ngày 21 có đồng đội Nguyễn Văn Triệu tự chức, sau đó tôi ở đấy gỡ mìn và làm đường.

Đến ngày 30/4/1975 ra Sài Gòn, Nam Định tiếp tục gỡ mìn cho bộ binh Mỹ (gọi là gỡ Mìn chống tăng) và tập kết ở Ấp Bính Đình, xã Phú Hòa, Huyện Châu Thành - tỉnh Bình Dương ở đấy phá giá tiền ngụy dân bán rẻ mình mua đáp và quay về Hà tĩnh đến ngày 05/10/1977 là phục viên xuất ngũ ở xã Đức An- Huyện Đức Thọ - Tỉnh Hà Tĩnh trở về quê hương với nhiều trái tim vẫn tràn đầy nhiệt huyết. Mang theo phẩm chất người lính năm xưa, đồng chí tích cực tham gia xây dựng quê hương, hăng hái lao động sản xuất, gương mẫu trong mọi phong trào của địa phương. Dù hoàn cảnh còn nhiều khó khăn, đồng chí luôn nói: “Còn sống trở về là đã may mắn hơn nhiều đồng đội. Điều tôi phải làm là sống sao cho xứng với họ.”

Lời nhân chứng: “Đi qua chiến tranh mới biết quý hòa bình”

Khi được hỏi điều gì ám ảnh ông nhất sau cuộc đời trận mạc, ông im lặng một lúc lâu rồi nói:

Là những người bạn đã mất ở Cánh đồng chung. Họ đều còn rất trẻ và có những người còn chưa kịp viết lá thư gửi về nhà. Chúng tôi chôn các anh rồi lại vội vã làm nhiệm vụ. Kể đến đây, giọng ông khản đi, nhưng ánh mắt lại sáng lạ thường khi nói về thế hệ trẻ:

Mong các cháu hôm nay biết quý từng ngày yên bình. Hòa bình là món quà đắt nhất mà thế hệ chúng tôi đổi bằng máu và nước mắt.”

Hơn bốn mươi năm sau chiến tranh, ký ức ấy trong ông vẫn chưa bao giờ cũ.

Ông Dìn nguyên là Chủ tịch Hội cựu Chiến binh xã (Bản Mế cũ) nay là xã Sín Chéng là một trong những hội viên tiêu biểu của Hội Cựu chiến binh xã Sin Chéng.

Ông Sùng Seo Hòa – Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã chia sẻ: “Đồng chí Thèn Chẩn Dìn luôn là tấm gương sáng. Trong chiến tranh, đồng chí chiến đấu dũng cảm. Trong thời bình, đồng chí sống giản dị, trách nhiệm, gương mẫu đi đầu trong các phong trào của phường.” Ông Tiếp cho biết thêm: “Điều đáng quý nhất ở đồng chí Dìn là tinh thần Bộ đội Cụ Hồ còn nguyên vẹn. Đồng chí làm việc không nề hà, vận động bà con đoàn kết, tham gia xây dựng đời sống văn hóa, giữ gìn bản sắc. Những điều đó lan tỏa rất mạnh trong cộng đồng.”

Nhờ những đóng góp trong chiến tranh và thời bình, ông Dìn được trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huy chương Kháng chiến hạng nhất, và hạng nhì, Huy chương chiến sỹ giải phóng, các Kỷ niệm chương khác…Nhưng với ông, phần thưởng lớn nhất chính là được sống trong hòa bình và thấy con cháu trưởng thành.

Bây giờ, dù tóc đã bạc, dáng đã chậm hơn, ông vẫn thường được mời nói chuyện truyền thống cho học sinh và đoàn viên. Ông cười hiền: “Tôi kể không phải để các cháu thương, mà để các cháu hiểu: đất nước mình có được hôm nay không dễ dàng.”

Những câu chuyện của ông giản dị mà chân thật, chính là ký ức sống động của lịch sử, là sợi dây kết nối quá khứ và hiện tại.

Chia tay, ông Dìn đứng bên hiên nhà, đưa tay chào theo cách của người lính. Hình ảnh ấy khiến tôi hiểu rằng dù chiến tranh đã lùi xa, trong ông, người lính vẫn còn đó – bền bỉ, kiên cường, trách nhiệm và nhân hậu. Ông không chỉ là một nhân chứng sống của lịch sử, mà còn là người giữ lửa cho thế hệ hôm nay, một người lính giữa đời thường, vẫn ngày ngày cống hiến thầm lặng cho quê hương.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn