Ký ức không thể nào quên trước ngày ký Hiệp định Paris của người cựu binh xứ Nghệ
"Đang chuẩn bị cho trận đánh vào Tây Ninh thì Hiệp định Paris được ký kết. Trận đánh không diễn ra, bộ đội ta cũng không phải hy sinh xương máu thêm nữa. Lúc đó ai cũng mừng khôn xiết ”, cựu binh Trương Văn Huỳnh nhớ về những ngày tháng không thể nào quên của cuộc đời binh nghiệp.

Tôi gặp ông trong một tình huống khá tình cờ tại UBND xã Đức Châu. Câu chuyện về những năm tháng ở chiến trường đã vô tình kết nối tôi - một nhà báo chuyên đảm trách chuyên mục “Kể chuyện chiến sĩ” - với người lính quê hương Diễn Phong năm xưa. Ông quả quyết chắc nịch: Nhà báo cứ về nhà tôi, sẽ có nhiều câu chuyện đáng để kể lắm, đặc biệt là những tháng ngày gần với ngày Ký hiệp định Paris 27/1/1973...
Trận đánh then chốt trước ngày Ký hiệp định Paris
Chậm rãi bên cốc nước chè xanh thơm nồng, Thượng tá Trương Văn Huỳnh (SN 1951) kéo tôi trở về hồi ức binh lửa cách đây hơn nửa thế kỷ. Ông nhập ngũ tháng 12/1970 rồi nhanh chóng trở thành người lính Tăng Thiết giáp M26 Miền Đông Nam Bộ. Những ngày tháng đó, việc hành hương trên rừng Trường Sơn vô cùng khó khăn, gian khổ vì phải đối mặt với mưa bom bão đạn từ B52, C130, tiêm kích ném bom hoặc máy bay trinh sát của địch. Một thời gian dài đơn vị M26 của ông phải “ém” quân từ những cánh rừng già bên kia biên giới nước bạn Campuchia tiếp giáp với Bình Phước, Tây Ninh của nước ta...
Cuối năm 1972 đầu năm 1973, đơn vị M26 của ông nhận được lệnh tham gia tấn công giải phóng thị xã Tây Ninh để tạo đà thắng lợi trước khi ngồi vào bàn đàm phán Paris về việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam. Ông Trương Văn Huỳnh lý giải: Thị xã Tây Ninh là địa bàn đặc biệt quan trọng với cả quân ta và nguỵ quyền Sài Gòn. Nơi đây có núi Bà Đen - ngọn núi cao nhất vùng Miền Đông Nam Bộ - có thể giúp bố trí lực lượng trinh sát, khống chế cả vùng đồng bằng xung quanh... Vì vậy quân ta phải quyết giữ địa bàn vùng giải phóng, còn kẻ địch thường tổ chức các đợt càn quét, tiêu diệt để tìm cách đánh bật lực lượng quân Giải phóng ra khỏi địa bàn.

Đầu năm 1973, đơn vị M26 của ông Huỳnh được lệnh di chuyển xe tăng T54, T55, PT76 từ Bình Phước xuống Lộ 22 xuống Tây Ninh ém quân, chuẩn bị cho trận đánh quyết định vào thị xã. “Lúc đó anh em quyết tâm lắm”, cựu chiến binh Trương Văn Huỳnh bồi hồi nhớ lại.
Đơn vị nhanh chóng cơ động vào những trảng rừng lúp xúp. Việc đào hầm nguỵ trang cho xe tăng và các binh chủng nhanh chóng được triển khai... “Thời gian đó biệt kích thám báo nguỵ dường như đánh hơi được quân ta nên hàng ngày chúng tung rất nhiều đơn vị đi dò la tất cả những cánh rừng khả nghi. Trên trời thì máy bay trinh sát địch L19 cứ bay vè vè như ong, nếu phát hiện ra bất cứ mục tiêu khả nghi nào là máy bay ném bom ập đến ngay”, ông Huỳnh cho biết.
Để đảm bảo trận đánh diễn ra thắng lợi, ông Huỳnh được chọn tham gia đội trinh sát chiến trường. Công việc này đòi hỏi sự khẩn trương, bí mật và vô cùng gan dạ của người lính. “Chạm mặt kẻ địch là không hề đơn giản đâu. Có lần tổ 4-5 người của chúng tôi hành quân trong đêm để tiến đến trinh sát mục tiêu của địch. Ngoài khẩu súng, dao găm, quả thủ pháo bên người, chúng tôi còn phải mang theo bao lương thực để tồn tại. Đang hành quân trong đêm thì người đi đầu chạm trán với thám báo địch. Thế là cả đội chạy tản ra nhiều hướng để thoát thân. Kẻ địch điên cuồng truy lùng đội trinh sát của ông nhiều ngày đêm liền mà vẫn không phát hiện được, trong lúc đó ông Huỳnh nằm nguỵ trang cách vị trí của chúng chỉ chừng trăm mét...”, ông Huỳnh kể lại giây phút thoát nạn sinh tử ở chiến trường.
Cùng trong thời điểm “ém quân” trước trận đánh vào thị xã Tây Ninh, có lần ông và một người đồng đội được phân công đi lấy măng về cho anh nuôi cải thiện. Đang đi, bỗng dưng ông Huỳnh phát hiện thấy 2 cô gái đi xe Honda chở theo một người mặc quân phục quân giải phóng, nhưng tay bị trói chặt, đang phóng xe trên đường. Thấy sinh nghi, ông Huỳnh liền phóng chiếc gậy trên tay vào chiếc xe máy làm cả 3 ngã sõng soài… Sau đó ông Huỳnh với khẩu AK trên tay đã áp giải được cả 3 người. Khi hỏi cung mới biết người đàn ông đó cũng là “quân mình”, khi đi trinh sát, có vào mua thuốc lá ở quầy thuốc 2 cô gái, do quá chủ quan nên bị tước súng và bị bắt để giải lên quận lỵ...
“Hồi đó quân Nguỵ treo thưởng là khi người dân phát hiện ra mỗi bước chân dép cao su của quân giải phóng xuất hiện ở những cánh rừng cao su ở Lộc Ninh thì được thưởng 500 đồng. Vì thế chúng tôi phải nguỵ trang liên tục để không bị phát hiện”, ông Huỳnh lý giải về những nguy hiểm, rủi ro phải đối mặt.
“Thế còn ở trên trời, máy bay trinh sát chúng có phát hiện được đơn vị của ông không?” tôi tò mò hỏi.
BotaniaHành trình 18 năm Botania đồng hành cùng sức khỏe cộng đồngCông ty Botania xây dựng uy tín, trở thành thương hiệu quen thuộc được người Việt tin dùng.Tìm hiểu thêmTrầm ngâm một lát, ông Huỳnh nói như nghẹn lại: Có lần chúng ném bom vào trận địa chúng tôi ác liệt đến mức đồng đội tôi tên là Thương (cũng là người Nghi Lộc) phải bỏ chạy tán loạn ra khỏi hầm trú ẩn. Lúc đó thật sự kinh hoàng! Tôi đã phải hét lên: Trở lại hầm đi quê ơi (tiếng gọi thân thương của những người cùng quê gặp nhau ở chiến trường), có chết thì cùng chết! Sau đó, vì một sức mạnh thần kỳ nào đó mà tôi không giải thích nổi, chúng tôi đã vượt qua trận bom ác liệt đó.

Lần trao trả tù binh đặc biệt ở chiến trường
Đang chuẩn bị cho trận đánh thì Hiệp định Paris được ký kết ngày 27/1/1973. “Trận đánh vào thị xã Tây Ninh không diễn ra, bộ đội ta cũng không phải hy sinh xương máu thêm nữa. Lúc đó ai cũng mừng khôn xiết và tin rằng hoà bình sẽ đến, bọn mình sẽ được về với gia đình”, ông Huỳnh nhớ lại tâm lý chung của đồng đội lúc đó.
Tháng 3/1973, đơn vị ông Huỳnh được giao nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn an ninh cho cuộc trao trả bộ đội ta. “Lúc đó việc trao trả bộ đội nam diễn ra tại sông Bến Hải - Quảng Trị, còn ở Lộc Ninh thì địch trao trả bộ đội nữ cho ta”, ông Huỳnh bồi hồi nhớ về thời khắc lịch sử đó.
“Tôi nhớ trong hàng trăm người lính được địch trao trả cho ta tại Lộc Ninh, có rất nhiều lính nữ. Có một chị quê ở Tân Kỳ khoảng 24-25 tuổi gì đó, hình như làm lính cơ yếu thì phải... Khi bị địch bắt, chị khai nhận là người miền Nam nhưng vẫn bị chúng tra tấn dã man, đến mức khi chị được trao trả về cho quân ta, ban đêm ngủ vẫn còn mê sảng, hoảng loạn. Rồi những tình tiết kinh khủng khác khi chúng tôi gặp lại những người lính nữ bị bắt giữ tra tấn lâu ngày … đến giờ tôi vẫn không thể quên”, đôi mắt ông Huỳnh bỗng đỏ hoe, nghẹn lại!

Sau chiến tranh, ông Huỳnh tiếp tục trưởng thành trong quân đội với vai trò Chính trị viên Tiểu đoàn pháo phòng không Nguyễn Viết Xuân (sau này là Lữ đoàn 283) đóng quân, bảo vệ bầu trời quê Bác. Lúc nghỉ hưu trở về quê hương Diễn Phong (nay là xã Đức Châu) ông tiếp tục là cựu chiến binh gương mẫu, đóng góp nhiều cho phong trào cựu chiến binh của thôn, xóm và xã Diễn Phong - Đức Châu. Trong rất nhiều lần tham gia kể chuyện truyền thống cho các cháu, ông đều chia sẻ nhiều câu chuyện dễ nhớ, dễ hiểu để các cháu không được lãng quên lịch sử dân tộc.
“Có được hoà bình hôm nay không dễ đâu nhà báo ạ!” ông lặng lẽ nhắn nhủ khi chia tay tôi...



