Ký ức lặng thầm của một cựu chiến binh và trách nhiệm hôm nay
Ở một góc nhỏ yên bình của thôn Sông Y, xã Trà Tân, thành phố Đà Nẵng (thuộc Quảng Nam trước đây), ông Nguyễn Văn Phân năm nay đã 102 tuổi. Ông sống cuộc đời giản dị bên người vợ là bà Nguyễn Thị Ráo, một thanh niên xung phong năm xưa, từng làm nhiệm vụ liên lạc trên tuyến đường dây mật của Trung ương. Dáng người ông đã nhỏ lại theo năm tháng, nhưng giọng nói vẫn trầm ấm, nụ cười vẫn hiền hậu. Ít ai nghĩ rằng phía sau vẻ ngoài bình dị ấy là cả một thời đạn bom khốc liệt.
Ký ức lặng thầm của một cựu chiến binh
và trách nhiệm hôm nay
Ở một góc nhỏ yên bình của thôn Sông Y, xã Trà Tân, thành phố Đà Nẵng (thuộc Quảng Nam trước đây), ông Nguyễn Văn Phân năm nay đã 102 tuổi. Ông sống cuộc đời giản dị bên người vợ là bà Nguyễn Thị Ráo, một thanh niên xung phong năm xưa, từng làm nhiệm vụ liên lạc trên tuyến đường dây mật của Trung ương. Dáng người ông đã nhỏ lại theo năm tháng, nhưng giọng nói vẫn trầm ấm, nụ cười vẫn hiền hậu. Ít ai nghĩ rằng phía sau vẻ ngoài bình dị ấy là cả một thời đạn bom khốc liệt.
Ông Phân là thành viên của lực lượng Thanh niên xung phong thuộc Quân khu 5, đồng thời là tiểu đội trưởng của một đơn vị. Trong những năm kháng chiến, ông tham gia nhiều trận đánh từ Quảng Nam (cũ) đến Quảng Ngãi, cũng như ở khu vực Tam Kỳ – Đà Nẵng. Do thời gian đã quá lâu, ông không còn nhớ rõ hết tên từng trận đánh.
Ở tuổi 102, khi trí nhớ không còn minh mẫn như trước, ông vẫn lưu giữ trong mình những ký ức về một thời kháng chiến gian khổ mà hào hùng. Ông kể rằng mình tham gia cách mạng từ năm 18 tuổi, được bầu làm tiểu đội trưởng của đội K20. Ông từng tham gia các trận như “tổng tiến công đồi Trài”, “tổng tiến công đồi Liên”, trận đánh ở đồn xã Đốc và nhiều trận khác.
Theo lời ông, có lần cùng đồng đội đi công tác ở Lào, vì phải đi bộ nên chuyến đi kéo dài hơn ba tháng. Ông nhớ nhất trận đánh ở đồi Trài (Tiên Phước – Tam Kỳ). Trong lúc chiến đấu, một người đồng đội của ông bị địch bắn hai viên đạn vào đùi, không thể đứng dậy. Dù vậy, người ấy vẫn cố gắng lê thân mình hỗ trợ đồng đội và trong những giây phút cuối cùng đã bắn hạ được bảy tên địch trước khi hi sinh. Sau trận đánh, những người còn sống sót đều mang thương tích và lặng lẽ tiễn đưa đồng đội trong nỗi đau không nói thành lời.
Ông còn nhớ lại những lần hành quân gấp gáp: khi tiếng nổ vang lên, người chỉ huy – ông thường gọi là anh Cảnh – ra lệnh: “Các đồng chí đi thôi!”. Tất cả lập tức gác lại nỗi buồn, khoác ba lô, mang theo vũ khí và lên đường. Khi kể lại, ánh mắt ông vẫn trầm xuống khi nhớ về những người đã ngã xuống.
Có lần khác, trong một trận chiến, ông bị một vật sắc nhọn rạch một vết sâu ở bụng. Máu chảy nhuộm đỏ áo. Hai người đồng đội (ông gọi là anh Bảy Nùng và anh Tám Tố) đã đưa ông vào rừng để sơ cứu. Không có thuốc tê, họ dùng kim thô sơ khâu vết thương ngay giữa rừng. Để không phát ra tiếng động, ông cắn chặt áo chịu đau, bởi ông biết chỉ cần một tiếng kêu cũng có thể khiến cả nhóm bị lộ vị trí.
Ngoài những năm tháng chiến đấu, ông còn được nhận Huân chương hạng Ba và nhiều bằng khen do Chủ tịch Võ Chí Công trao tặng. Những phần thưởng ấy hiện được lưu giữ tại huyện đội.
Càng nghe những câu chuyện ấy, tôi càng hiểu chiến tranh không chỉ được viết bằng những trận đánh lớn, mà còn bằng máu, nước mắt và những vết sẹo theo suốt cuộc đời người lính. Mỗi vết thương trên cơ thể ông là một chứng tích sống, nhắc nhở rằng hòa bình hôm nay không tự nhiên mà có, mà phải đánh đổi bằng tuổi xuân và cả mạng sống của biết bao con người.
Câu chuyện ấy là lời nhắc nhở sâu sắc đối với thế hệ trẻ hôm nay. Chúng ta sinh ra trong hòa bình nên đôi khi dễ xem nhẹ giá trị của nó. Nhưng khi lắng nghe những gì thế hệ đi trước đã trải qua, mỗi người sẽ hiểu rõ hơn trách nhiệm của mình đối với đất nước: biết trân trọng hiện tại, biết ơn quá khứ và không thờ ơ với lịch sử dân tộc. Cuộc đời ông Nguyễn Văn Phân không chỉ là câu chuyện của riêng một con người, mà còn là dấu ấn của cả một thế hệ đã sống và chiến đấu vì Tổ quốc, những gì ông trải qua nhắc chúng ta rằng hòa bình hôm nay phải đánh đổi bằng những mất mát không thể bù đắp.



