KÝ ỨC MÃ ĐÀ SƠN CƯỚC: BẢN HÙNG CA CHIẾN KHU D VÀ LỜI THỀ BÁM RỪNG ĐÁNH MỸ
LỜI MỞ ĐẦU: TIẾNG VỌNG TỪ ĐẠI NGÀN MIỀN ĐÔNG
Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của quân và dân miền Nam, bên cạnh Chiến khu Bàu Bàng, Bến Cát hay Tam giác sắt, cái tên Chiến khu D đã trở thành một biểu tượng đi vào thơ ca và lịch sử: "Miền Đông gian lao mà anh dũng".
Nằm trải rộng trên địa bàn các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai và Bình Phước ngày nay, Chiến khu D với trung tâm là đại ngàn Mã Đà, sông Bé, sông Đồng Nai không chỉ là căn cứ địa vững chắc của Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trong những năm tháng gian khổ nhất, mà còn là "miền đất cấm" gieo rắc niềm kinh hoàng cho quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn.
Nghe lời kể của cựu chiến binh Nguyễn Văn Năm (thường gọi là ông Năm Rừng) – một người lính già từng gắn bó trọn tuổi xuân với những tán rừng bời lời, cây gụ và dòng sông Bé – chúng tôi như được sống lại những năm tháng "cơm chấm muối, áo không lành" nhưng ngập tràn niềm tin chiến thắng của bộ đội Chiến khu D.
CHƯƠNG I: VỀ VỚI "ĐẠI NGÀN MÃ ĐÀ" NHỮNG NĂM 1960
Sinh ra tại vùng đất ven sông Bé (thuộc tỉnh Bình Dương ngày nay), ông Nguyễn Văn Năm lớn lên khi quê hương bị kìm kẹp bởi các đồn bốt và chính sách "tố cộng, diệt cộng" tàn bạo của địch. Năm 1961, khi vừa tròn 18 tuổi, nghe theo tiếng gọi của cách mạng, ông Năm trốn vào rừng Mã Đà gia nhập lực lượng du kích và sau đó trở thành chiến sĩ chủ lực của Chiến khu D.
"Chiến khu D thời ấy là vùng rừng già bạt ngàn, cây cổ thụ mấy người ôm không xát. Không đường xá, không nhà cửa, chỉ có lối đi của voi rừng và thú dữ. Nhưng chính cái hiểm trở của địa hình, sự bao bọc của đại ngàn đã ôm ấp, che chở cho các cơ quan đầu não cách mạng và bộ đội ta" – Ông Năm Rừng xúc động nhớ lại.
Những năm 1961 – 1965, cuộc sống của người lính Chiến khu D thiếu thốn đủ bề. Món ăn quen thuộc hàng ngày là măng rừng, rau dớn, củ chụp và cá suối. Bữa cơm có hạt gạo trắng là điều vô cùng xa xỉ. Thế nhưng, câu hát "Tình xóm làng miền Đông thân thương/Gian lao nuôi quân đánh thắng quân thù" luôn vang vọng dưới những mái lá trung quân che khuất ánh nắng mặt trời.
CHƯƠNG II: "CƠM CHẤM MUỐI, ÁO MỎNG GIỮA SƯƠNG ĐÊM" VÀ NHỮNG TRẬN ĐÁNH TÁO BẠO
1. Cuộc chiến với ba kẻ thù: Bom đạn, sốt rét và giặc đói
Ở Chiến khu D, người chiến sĩ phải đối mặt với ba thử thách sinh tử mỗi ngày:
Bom đạn và chất độc hóa học: Không quân Mỹ liên tục trút bom B-52 và rải chất độc da cam xuống vùng rừng Mã Đà nhằm biến nơi đây thành "vùng đất chết". Những vạt rừng bời lời xanh tốt bị cháy xém, cây cối trơ cành.
Cơn sốt rét rừng hàn tính: Sương muối và muỗi rừng miền Đông khiến hàng loạt chiến sĩ bị sốt rét quật ngã. Nhiều đêm nằm trên võng bạt, hai răng đập vào nhau côm cốp vì lạnh, nhưng hôm sau cắt sốt lại cầm súng ra trận địa.
Cây lá trung quân và sáng kiến của người lính: Để làm nhà, làm hầm giữa rừng mà không bị máy bay soi phát hiện, bộ đội ta dùng lá trung quân – loại lá rừng kỳ lạ: dẻo dai, không bắt lửa và khó bị khô giòn. Những căn hầm âm dưới lòng đất lợp lá trung quân đã trở thành "trụ sở" an toàn cho Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền.
2. Trận đánh giao thông trên Đường 16 và sông Bé
Không chịu ngồi yên trong thế phòng thủ, đơn vị Tiểu đoàn 800 của ông Năm Rừng đã tổ chức hàng chục trận phục kích táo bạo trên tuyến Đường 16 và沿 bờ sông Bé.
Ông Năm kể lại trận đánh xuân hè năm 1966:
"Sáng hôm đó, một đoàn xe quân sự địch có xe cộ thiết giáp M113 dẫn đường di chuyển qua ngã ba Cổng Xanh. Đơn vị tôi gài mìn hướng hướng chặn đầu và khóa đuôi. Khi chiếc M113 đi đầu vừa cán đứt dây mìn nổ tung, từ hai bên bờ bụi rậm, chúng tôi đồng loạt vồ lên nhả đạn B40, AK.
Địch hoảng loạn phản công dữ dội. Tôi cùng đồng đội luồn lách qua các gốc cây to, áp sát từng chiếc xe tải diệt địch. Trận đó ta làm chủ hoàn toàn trận địa, thu nhiều súng đạn và quân trang đem về tiếp tế cho căn cứ. Trận đánh khẳng định một điều: Dù Mỹ có hiện đại đến đâu, bước vào rừng già Chiến khu D là bước vào cạm bẫy của quân dân ta!"
CHƯƠNG III: TÌNH QUÂN DÂN BÁM RỪNG VÀ NGÀY TOÀN THẮNG
1. Tấm lòng nhân dân miền Đông Nam Bộ
Chiến khu D không thể tồn tại và phát triển nếu không có tình yêu thương, sự nuôi dưỡng của nhân dân các vùng ven Bình Dương, Đồng Nai, Bình Phước. Bà con chấp nhận gian khổ, qua mặt mật vụ địch để tải từng gùi gạo, từng hũ muối, từng liều thuốc tây vào rừng cho bộ đội.
"Có những người mẹ, người chị ở Tân Uyên, Phú Giáo ban ngày đi làm rẫy, đêm về lặng lẽ gùi hàng chục ký gạo lội qua sông Bé gửi vào căn cứ. Nhiều người bị địch bắt tra tấn dã man nhưng một mực giữ kín bí mật về con đường vào Chiến khu D" – Cựu chiến binh Nguyễn Văn Năm nghẹn ngào.
2. Từ Chiến khu D tiến về Sài Gòn 1975
Mùa xuân năm 1975, Chiến khu D trở thành một trong những bàn đạp xuất phát quân quan trọng nhất. Các đại đoàn chủ lực từ căn cứ Mã Đà Rừng Sác đồng loạt vượt sông Đồng Nai, đánh chiếm các mục tiêu then chốt ở Biên Hòa và tiến thẳng vào nội ô Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Khi nghe tin Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố hàng không điều kiện trưa ngày 30/4/1975, ông Năm Rừng cùng đồng đội giữa đại ngàn Mã Đà đã ôm nhau khóc nức nở. Tiếng súng đã ngắt, rừng già miền Đông từ đây thôi đỏ lửa bom cày.
CHƯƠNG IV: GIỮ MÃI MÀU XANH CHIẾN KHU D CHO THẾ HỆ MAI SAU
Sau chiến tranh, cựu chiến binh Nguyễn Văn Năm xuất ngũ, trở về sinh sống tại địa phương. Ông tiếp tục gắn bó với rừng, tham gia Ban quản lý bảo vệ rừng Mã Đà và công tác Hội Cựu chiến binh.
Hàng năm, ông Năm Rừng lại dẫn các đoàn đoàn viên, thanh niên về thăm lại Di tích Căn cứ Trung ương Cục miền Nam (1961–1962) tại Chiến khu D. Giữa không gian tĩnh mịch của rừng nguyên sinh, bên chiếc hầm âm lợp lá trung quân restored, giọng nói hào hùng của người lính già như sống lại một thời hoa lửa:
"Rừng Chiến khu D hôm nay đã xanh tươi trở lại. Những hố bom B-52 năm xưa giờ thành những hồ nước trong veo. Nhưng dưới lớp đất phù sa này là máu xương của hàng ngàn đồng đội tôi. Tôi chỉ mong thế hệ trẻ khi về đây, hít thở không khí tự do giữa rừng già, hãy luôn nhớ về công ơn của những người đã ngã xuống."
KẾT LUẬN
Huyền thoại Chiến khu D và câu chuyện của cựu chiến binh Nguyễn Văn Năm là minh chứng hùng hồn cho sức mạnh của lòng yêu nước, tinh thần chịu đựng gian khổ và ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam.
Thông qua Đề án “Câu chuyện thời hoa lửa” trên hệ thống cauchuyenlichsu.vn, tuổi trẻ hôm nay xin hứa sẽ tiếp nối truyền thống "Anh dũng, kiên cường" của miền Đông gian lao; bảo vệ vững chắc từng tấc đất, ngọn cỏ quê hương và nỗ lực xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp.



