Anh hùng Lực lượng vũ trang

Ký ức mở đường vào bến Vũng Rô của người thuyền trưởng anh hùng

Vũ Thị Minh Ngọc

TP. Hồ Chí Minh15/08/2026phường Lưu Kiếm (phường Lưu Kiếm)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mỗi lần đến tham quan Bảo tàng Quân chủng Hải quân, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Đắc Thạnh (nguyên Thuyền trưởng Tàu 41 từ 1964-1966) thường nhắc lại kỷ niệm những lần vượt biển chở vũ khí viện trợ tiền tuyến miền Nam. Trong ký ức của ông, chuyến đi mở đường vào bến Vũng Rô có ý nghĩa đặc biệt.

Sau chuyến đi Cà Mau thắng lợi trở về ngày 1/11/1964, cán bộ, chiến sĩ Tàu 41 (Đoàn 125, tiền thân Lữ đoàn Hải quân 125 ngày nay) đang họp rút kinh nghiệm và tranh thủ nghỉ ngơi sau những ngày vật lộn với sóng to gió lớn thì được lệnh về cảng Đồ Sơn nhận nhiệm vụ mới. 19 giờ ngày 10/11/1964, con tàu tới cảng Đồ Sơn trong một đêm lạnh buốt.

Anh hùng Hồ Đắc Thạnh kể lại: “Tàu cập bến, tôi và đồng chí Chiếu (Chính trị viên) được xe chở về Sở chỉ huy Quân chủng. Tại phòng họp đã có các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy Quân chủng. Một tấm hải đồ tỉ lệ lớn trải rộng trên bàn trước mặt đồng chí Tư lệnh. Buổi họp giao nhiệm vụ chuyến đi bắt đầu. Đã nhiều lần nhận nhiệm vụ, nhưng không hiểu sao lần này lòng tôi thấy hồi hộp. Mặc dù Tư lệnh chưa nói, nhưng qua tấm hải đồ mà mọi ký hiệu tình hình đều tập trung vào vùng biển Phú Yên, tôi đã tưởng tượng nhiệm vụ lần này. Như đoán được suy nghĩ trong lòng tôi. Tư lệnh Tạ Xuân Thu nói: Năm 1963, có tàu chở 20 tấn vũ khí chi viện Khu 5 vào bến Lộ Diêu, tỉnh Bình Định. Lần đó tàu vào đến nơi, chuyển được hàng nhưng vì sóng to gió lớn nên không về hậu phương được, anh em phải phá tàu để đi bộ về. Hiện nay nhu cầu vũ khí ở chiến trường Khu 5 hết sức bức thiết. Tỉnh ủy các tỉnh ven biển Khu 5 đã cử người ra Trung ương xin chi viện. Theo chỉ thị của Trung ương lần này, ta đưa hàng vào Vũng Rô. Vì nơi đây có vũng nước sâu, tàu ra vào không phụ thuộc thủy triều, lại nằm kế sát đường sắt và Quốc lộ 1, nơi địch rất sơ hở. Nếu biết lợi dụng yếu tố bí mật bất ngờ thì ta sẽ thắng. Tuy nhiên, Vũng Rô là nơi dễ bị kẻ địch bao vây, chỉ cần một tàu đứng chặn giữa Mũi Điện và Hòn Nưa là tàu ta khó thoát.

Bộ Tham mưu và Thủ trưởng Đoàn chuẩn bị chu đáo để Bộ tư lệnh Quân chủng có thể giao nhiệm vụ cho tàu. Từ giờ phút đó, tàu cách ly với các đơn vị trong Đoàn và bên ngoài. Những ngày tiếp theo, cán bộ tàu chúng tôi phải lo nghiên cứu hải đồ, tính toán thủy triều, nhận dạng mục tiêu, tìm hướng đi tránh ra đa…”.



Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Đắc Thạnh (nguyên Thuyền trưởng Tàu 41 từ 1964-1966). Ảnh BTHQ.

Công việc chuẩn bị cho Tàu 41 được tiến hành thận trọng, khẩn trương. Một số cán bộ, chiến sĩ quê Phú Yên được đưa về tàu làm thủy thủ, gồm các đồng chí: Lê Kim Tự, Lê Xuân (quê Hòa Hiệp), Trần Mỹ Thành (quê Xuân Thịnh). Tàu có 16 người, phần lớn quê Phú Yên.

Ông kể tiếp: “Hôm ấy là ngày 16/11/1964, đồng chí Tư lệnh Quân chủng, Đoàn trưởng và Chính ủy Đoàn 125 ôm hôn thắm thiết cán bộ chiến sĩ của tàu trước giờ xuất phát. 24 giờ đêm, con tàu rời bến Bãi Cháy (Quảng Ninh). Bóng người khuất dần nhưng chúng tôi vẫn nghe thấy lời động viên “chúc Tàu 41 hành trình thuận buồn xuôi gió! Bộ Tư lệnh chờ tin thắng lợi của các đồng chí báo về!”. Tình cảm ấy làm chúng tôi vô cùng cảm động, quyết tâm vượt biển, hoàn thành nhiệm vụ”.

Tàu đi được hơn một ngày thì gió mùa Đông Bắc tràn về. Sóng đến cấp 6, cấp 7. Sở chỉ huy chỉ thị cho tàu dừng lại ở đảo Hải Nam chờ lệnh. Trong thời gian ở đảo, cán bộ, thủy thủ trên tàu tranh thủ tập luyện các phương án chiến đấu.

“18 giờ ngày 26/11/1964, chúng tôi vượt qua giới tuyến tạm thời trên biển. Tôi ra lệnh nâng cấp sẵn sàng chiến đấu và tăng cường quan sát. Thuyền phó Hồng Lỳ trực tiếp đến từng giường của các đồng chí khách phổ biến tình hình. Tôi đang loay hoay đo đạc xác định vị trí tàu nghe phía sau có người hô to: “Xin tạm biệt hậu phương lớn hẹn ngày trở lại. Xin chào miền Nam tiền tuyến lớn chúng tôi đang về theo tiếng gọi quê hương”. Đó là anh Võ – người khách duy nhất trên tàu không say sóng. Anh đang giơ tay chào tạm biệt miền Bắc và giang tay ôm lấy miền Nam trong giây phút bồi hồi xúc động khi biết tàu qua giới tuyến tạm thời” – Ông kể tiếp.

5 giờ ngày 28 tháng 11, một máy bay địch lượn vòng trên biển. Tàu 41 lập tức treo cờ ngụy quân lên đỉnh cột và tiếp tục hành trình. Anh em còn đứng trên boong, giơ tay vẫy máy bay. Khi Tàu 41 chuẩn bị chuyển hướng vào bờ thì gặp 2 tàu địch phía trong tiến ra. Thuyền trưởng Thạnh cho anh em thay biển số tàu, sửa lại lưới đánh cá ngụy trang và sẵn sàng chiến đấu. Thấy khả nghi, cách chừng một hải lý, tàu địch giảm tốc độ, chạy vòng về phía trước tàu ta. Các khẩu pháo trên tàu của chúng đều sẵn sàng nhả đạn. Không khí trên tàu vô cùng căng thẳng vì cuộc chiến có thể sắp xảy ra nhưng mọi người vẫn rất bình tĩnh. Thấy Tàu 41 không có biểu hiện gì khác thường, vài tiếng sau cả hai tàu địch tăng tốc chuyển đi hướng khác.



Anh hùng Hồ Đắc Thạnh trong dịp tham quan Bảo tàng Hải quân. Ảnh BTHQ.

Ông kể tiếp: “12 giờ ngày 28/11/1964, tàu chuyển hướng  vào bến. Không khí chuẩn bị trên tàu rất khẩn trương và bận rộn. 14 giờ thì phát hiện lờ mờ rặng núi phía đất liền. Tình hình vẫn yên tĩnh. Thỉnh thoảng có một, hai lần máy bay lượng qua hướng đi của tàu. Trời tối, lúc này tàu ta đã nằm trong bán kính chiếu sáng của đèn Mũi Nậy rồi mà vẫn chưa nhìn thấy ánh chớp. Bao nhiêu giả thuyết đặt ra: “Có thể vị trí tàu ta sai lệch”.

Tàu vẫn đi theo hướng đã định. 22 giờ tàu cách bờ núi 1 hải lý. Chúng tôi dùng đèn pin phát tín hiệu nhận nhau. 5 phút, rồi 10 phút vẫn không thấy tín hiệu trả lời. Bình tĩnh, cảnh giác và thận trọng. Tôi cho tàu giảm tốc độ và tránh xa các mõm núi đá. Lưới ngụy trang trên các ụ súng máy được tháo gỡ ra để sẵn sàng chiến đấu. Phía mạn trái tàu có một hòn đảo hiện ra rõ dần. Cửa Vũng Rô đã ở trước mặt. Tôi cho tàu chạy từ từ vào giữa vịnh và thả trôi. Chiếc xuồng ba lá được thả xuống, đồng chí thuyền phó cùng 2 chiến sĩ mang theo vũ khí chèo vào phía bờ tìm bắt liên lạc với bến. Tàu thả trôi chờ đợi. Thời gian nhích dần chậm chạp”.

Nhớ lại giây phút gặp đồng đội, ông bồi hồi: “Bỗng phía bờ có ánh đèn pin chớp lên rồi vụt tắt. Anh Quang dùng đèn pin phát tín hiệu nhận nhau và được phía bờ đáp lại đúng quy định. Toàn tàu thật sự yên lòng mình đã vào đúng bến Vũng Rô. Một chiếc ghe máy kéo theo chiếc xuồng ba lá cập mạn. Các anh lên tàu. Phút gặp gỡ đầu tiên vui mừng xúc động. Chúng tôi ôm chầm lấy nhau hai hàng nước mắt chảy ròng nghẹn ngào không nói nên lời.

Sau phút bồi hồi xúc động tôi trình bày với các anh là “theo lệnh cấp trên tàu tôi chỉ được ở lại đến 3 giờ sáng là phải rời khỏi bến”. Tôi gặp anh Sáu báo cáo là tàu sẽ ở lại bến để tối mai bốc hết hàng rồi ra và đề nghị các anh  tìm chỗ dấu và ngụy trang tàu. Tôi cho chuyển bức điện cuối cùng “Tàu ở lại bến bốc hàng xong tối mai ra” kết thúc liên lạc với Sở chỉ huy”.

4 giờ sáng hoàn thành xong việc dấu và ngụy trang tàu kín đáo. Cùng với lực lượng bến, Tàu 41 chốt chặn các vị trí cần thiết. Lệnh chiến đấu được ban hành phong tỏa chặn các hướng ra vào Vũng Rô và nghiêm cấm việc đốt lửa nấu ăn trong khu vực tàu đậu. Tất cả ăn lương khô và uống nước suối. Việc khó khăn là phải giải thích để ghe của ngư dân không vào suối lấy nước dễ bị lộ. Khoảng 14 giờ, mọi công tác chuẩn bị cho việc bốc dỡ hàng đã tạm ổn.

Trời tắt nắng, đã đến thời điểm chuyển giao quyền làm chủ Vũng Rô cho Tàu 41. Thuyền trưởng Thạnh cho anh em tháo dỡ ngụy trang và cơ động tàu về bãi chính để bốc hàng. Trên bờ hàng trăm dân công đã chờ sẵn. Chiếc cầu tàu làm tạm bằng cây rừng được khẩn trương lắp ghép, anh chị em dân công tràn xuống tàu. Không khí lao động khẩn trương tấp nập. Ai lên tàu cũng muốn xem tất cả các nơi tàu mình rồi mới chịu làm việc.



Một tàu không số chở vũ khí vào miền Nam. Ảnh tư liệu BTHQ.

Ông kể: “Trên tàu dưới bến người chạy đi chạy lại tấp nập rộn ràng khẩn trương bốc dỡ chuyển hàng. Tôi bưng ca nước mời anh chiến sĩ đang ngồi nghỉ sau khi bốc hàng dưới hầm lên quần áo ướt đẫm mồ hôi. Anh nói: “Đã mấy ngày nay đơn vị không còn gạo, anh em phải ăn trái sung!” – Tôi hỏi: “Quê mình mà cũng thiếu gạo à?” – Anh giải thích: “Gạo thì không thiếu nhưng từ Xuân Hòa, Hòa Tân chuyển về đây phải qua đường số 1 thì khó lắm. Bọn Nam Triều Tiên nó phục dai dẳng hai bên đèo Cả khó mà lọt qua”. Rồi anh nói tiếp: “Nhưng không sao, kỳ này có súng đạn của các anh đưa vô, bọn tôi sẽ mở rộng địa bàn giành dân, mà đã có dân là có gạo”. Tôi rơm rớm nước mắt, một mối cả thông sâu sắc dâng trào. Những con người đã mấy ngày ăn trái sung mà khi tàu đến đã lao động bốc dỡ hàng với một tốc độ chưa từng thấy. Tôi đã đưa tàu vào nhiều bến, với lượng hàng này ở những bến ấy cũng phải bốc dỡ đến mấy ngày. Nhưng ở đây…sức mạnh nào khiến cho các anh chị lập nên chiến công kỳ diệu ấy.” – Ông xúc động.

2 giờ sáng, hàng đã bốc xong. Theo đề nghị, dân công đã cho chuyển cát xuống để tạo nên sự ổn định khi tàu ra khơi gặp gió mùa Đông Bắc. Tàu chuẩn bị rời bến. Phút chia tay không ai muốn nhưng rồi cũng đến. “Anh Sáu cầm tay tôi lắc lắc: Chúc các anh lên đường trở về miền Bắc an toàn, hẹn ngày gặp lại. Những vòng tay ôm choàng lấy nhau, những dòng nước mắt thấm qua vai áo. Những chiến khăn tay giơ lên vẫy chào con tàu đang từ từ rời bến. Con tàu từ từ rời bến Vũng Rô!” – Ông nghẹn ngào.

Đã gần nửa thế kỷ, dù năm tháng qua đi, nhưng kỷ niệm về chuyến đi mở đường vào bến Vũng Rô còn in đậm trong tâm trí người thuyền trưởng anh hùng. Ông đã nhiều lần trở về thăm lại bến Vũng Rô, nơi 3 lần chỉ huy Tàu 41 chở vũ khí cập bến để chi viện chiến trường miền Nam. Giờ đây dù đã cao tuổi, anh hùng Hồ Đắc Thạnh vẫn luôn tích cực tuyên truyền, khơi dậy truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ ở địa phương. Câu chuyện của ông và nhiều kỷ vật của những người mở con đường huyền thoại trên biển sẽ mãi là niềm tự hào của người lính Hải quân nhân dân Việt Nam hôm nay và mai sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn