Ký Ức Một Thời Áo Lính
Năm 1968, khi tuổi trẻ còn rực lửa và tương lai còn rộng mở, chú Phạm Thanh Sơn đã khoác lên mình màu áo lính, rời xa gia đình và quê hương để lên đường nhập ngũ. Đó là giai đoạn đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh, muôn vàn khó khăn, gian khổ. Thế nhưng, trong trái tim của những người trẻ như chú khi ấy chỉ có một niềm tin giản dị mà vô cùng mạnh mẽ: sẵn sàng hy sinh tuổi xuân của mình để góp phần bảo vệ Tổ quốc. Những năm tháng quân ngũ ấy đã trở thành dấu ấn sâu đậm, theo chú suốt cả
Năm 1968 chú bắt đầu đi du kích xã. Năm 1969 kết hợp với 10 đơn vị nữa ở ngoài Bắc đi vào. Chú kể: có rất nhiều trận đánh, nhưng trận đánh này là in sâu trong tâm trí, tôi không bao giờ quên được. Lúc đó Trung đoàn 32 của sư đoàn 21 về đêm tập kết đầu hồi tại đầu cội, tôi là người dẫn mũi vô đánh, đâu đó nó tới bảy khẩu pháo. Đêm đó đánh tiêu diệt hết bốn khẩu pháo, trận địa ác liệt là khi đánh rồi, ra đồn nó bao vây xung quanh, trực thăng bay xuống sát với mặt nước, sát mặt đất, nó rà soát coi mình rút đi đâu là nó bắn, anh em mình hy sinh với bị thương cũng mấy đồng chí, lúc đó tôi cõng một đồng chí bị thương trên lưng tìm chỗ trốn, thì đồng chí bị địch bắn hi sinh trên lưng tôi. Kết thúc trận đánh hi sinh 2 đồng chí, 2 đồng chí bị thương, 3 đồng chí nữa coi như mình tiêu diệt gần phân nửa trung đoàn 32 và 4 khẩu pháo. Trận đánh đó là kỷ niệm sâu sắc nhất, một trận đánh trong đêm mà mình đã mất đi hai đồng chí. (Hai đồng chí đó người của trung đoàn Sông Hương ngoài Bắc vào).
Lúc này mình tập kết ở 3 điểm để đợi người tới đón, xuống xuồng khoảng 2 giờ đêm là đi tới sáng chèo liên tục, vừa đi vừa trốn máy bay của giặc, giặc rà xuống gần mặt nước là nó bắn xả liên tục, thì mình lặn xuống nước, máy bay bay đi rồi thì trèo lên xuồng bơi tiếp.
Năm 1982 chú tiếp tục qua miên (Campuchia) qua Hải Quân 5, chuyển qua làm đại đội trưởng sư đoàn 4, nhận nhiệm vụ chú đánh Đông - Tây, 28 ngày đêm ở ngoài rừng đánh đông xong rồi đánh đánh tây sông. Lương thực chính lúc đó là lương khô với cao lương ngoài Bắc đem vào bọc nửa kí. Cao lương bỏ vào ba lô để đó ăn, không nấu nướng gì được, lương khô trung quốc đưa qua như thẻ bánh in, vừa khô vừa cứng, ăn xong thì tìm nước suối xung quanh mà uống. Mệt thì ngã lưng vào cây, mắc võng nằm ở ngoài rừng, suốt 28 ngày đêm về tới quần áo rách hết trơn, mục hết trơn.
Sau khi Hiệp định được ký kết vào ngày 31/10, tình hình tại các khu vực vẫn vô cùng căng thẳng. Hai bên liên tục tổ chức chiếm giữ địa bàn, giằng co từng vị trí, mỗi bên đều tìm cách cắm cờ để khẳng định quyền kiểm soát. Trong một lần đối đầu trực tiếp, khi lực lượng hai bên chạm trán nhau trong khoảng cách gần, ta đã kịp thời phát hiện địch trước và chủ động nổ súng. Kết quả, năm tên địch bị tiêu diệt tại chỗ, ta thu giữ được năm khẩu súng, trong đó có một khẩu súng máy. Trận chạm trán diễn ra nhanh nhưng quyết liệt, góp phần bảo vệ địa bàn và giữ vững thế chủ động của lực lượng ta trong thời điểm vô cùng nhạy cảm ấy.
Bên cạnh nhiệm vụ chiến đấu, chú Sơn còn được giao đảm nhận nhiều công tác quan trọng. Năm 1971, chú được điều về làm việc tại Công an huyện Trần Văn Thời. Đến năm 1972, chú tiếp tục được phân công giữ chức vụ Đại đội phó xã Khánh Bình Đông, huyện Trần Văn Thời. Sau đó, chú công tác tại Huyện đội.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ và trở về với đời sống thường nhật, năm 1986 chú Sơn lập gia đình tại Cà Mau. Từ người lính nơi chiến trường ác liệt, chú tiếp tục được tổ chức và nhân dân tin tưởng giao đảm nhiệm chức vụ Trưởng Công an ấp. Trong vai trò mới, chú luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, tận tụy với công việc, góp phần giữ gìn an ninh trật tự tại địa phương, đem lại sự bình yên cho bà con nhân dân. Đến năm 1996, chú Sơn về sinh sống tại ấp Kiên Sơn.Chiến tranh qua đi nhưng những vết thương vẫn còn ở lại, tổng cộng chú đã trải qua 15 lần giải phẫu, trong đó có 10 lần mổ chân do nhiễm trùng, một lần mổ ruột thừa và một lần mổ tim. Những lần điều trị ấy không chỉ để lại dấu ấn trên cơ thể, mà còn trở thành những ký ức sâu đậm, in hằn trong suốt cuộc đời chú.Dù tuổi tác ngày một cao và mang trong mình nhiều di chứng chiến tranh, chú vẫn tích cực tham gia các hoạt động ở địa phương, đặc biệt là công tác Cựu chiến binh. Chú đảm nhiệm vai trò Chi hội trưởng Cựu chiến binh trong suốt 15 năm, là cầu nối gắn kết các hội viên, động viên nhau phát huy truyền thống cách mạng, sống gương mẫu, tích cực lao động và xây dựng quê hương ngày càng phát triển. Dù đã rời xa chiến trường khói lửa, không còn trực tiếp cầm súng chiến đấu, nhưng tinh thần người lính năm xưa vẫn luôn hiện hữu trong từng việc làm, suy nghĩ và hành động của chú. Phẩm chất kiên cường, lối sống giản dị, trách nhiệm với cộng đồng và lòng trung thành với lý tưởng cách mạng đã trở thành kim chỉ nam xuyên suốt cuộc đời chú, để lại hình ảnh đẹp và sự kính trọng sâu sắc trong lòng người dân địa phương.



