Bài viết

KÝ ỨC MỘT THỜI BOM ĐẠN

Ninh Bình07/05/2026Phạm Thị Ngọc (xã Thanh Bình)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

KÝ ỨC MỘT THỜI BOM ĐẠN

Vào những buổi tối mùa hè dịu mát, sau bữa cơm chiều, cả nhà tôi lại quây quần bên ông để nghe ông kể chuyện. Trong rất nhiều câu chuyện ông từng kể, em thích nhất là những câu chuyện về những năm tháng chiến tranh gian khổ mà ông đã đi qua. Mỗi lần nghe ông nhắc lại ký ức của một thời bom đạn, lòng chúng em lại lặng đi vì xúc động, xen lẫn niềm tự hào và biết ơn sâu sắc.

Ông em tham gia quân ngũ khi tuổi đời còn rất trẻ. Ông kể rằng, năm 1971, khi mới tròn mười sáu tuổi, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc giữa lúc đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh, ông đã tình nguyện viết đơn xin nhập ngũ. Sau một thời gian huấn luyện tại đơn vị Đặc công, đến tháng 9 năm 1972, ông được điều vào chiến trường Thừa Thiên Huế – nơi những cánh rừng xơ xác, trụi lá vì bom đạn và chất độc hóa học của đế quốc Mỹ. Tại đây, ông chiến đấu trong đơn vị D35 Đặc công. Cùng đồng đội, ông đã tham gia nhiều trận đánh ác liệt, tiêu diệt sinh lực địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến đấu và góp phần làm nên những chiến công thầm lặng mà oanh liệt.

Trong những năm tháng chiến tranh gian khổ ấy, ông và đồng đội đã phải đối mặt với biết bao khó khăn, thiếu thốn. Đó là những ngày hành quân xuyên rừng sâu, những đêm phục kích giữa mưa bom bão đạn, là những bữa cơm vội vàng giữa tiếng súng rền vang. Dẫu gian nan, hiểm nguy luôn cận kề, ông và đồng đội vẫn một lòng kiên cường, dũng cảm, chiến đấu bằng tất cả ý chí và lòng yêu nước cháy bỏng. Chính tinh thần quả cảm ấy đã góp phần làm nên thắng lợi vẻ vang của dân tộc.

Sau khi Hiệp định Pari được ký kết, ông được ra Bắc học tập. Đến tháng 4 năm 1975, ông tiếp tục hành quân vào chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng, tham gia chiến dịch giải phóng miền Nam. Ông kể, trận đánh khiến ông nhớ nhất là trận tiến công căn cứ Ái Nghĩa đầu năm 1975. Đó là một trận đánh vô cùng ác liệt, đơn vị ông đã tiêu diệt hơn 400 tên địch. Trong trận chiến ấy, ông bị thương, nhưng vẫn kiên cường bám trận cùng đồng đội cho đến giờ phút cuối cùng. Ngày 29 tháng 3 năm 1975, đơn vị D35 tiến vào giải phóng thành phố Đà Nẵng, góp phần làm nên mùa xuân đại thắng của dân tộc.

Tháng 6 năm 1975, ông ra Bắc tiếp tục học tập, rèn luyện. Đến năm 1977, ông lại lên đường làm nhiệm vụ ở chiến trường biên giới Tây Nam, chiến đấu trong đội D27 Đặc công, trực thuộc Quân khu 9. Tại đây, ông tiếp tục làm nhiệm vụ trinh sát ở khu vực núi gần biên giới Lạc Quốc – Ba Chúc, cách biên giới khoảng mười cây số. Những năm tháng ấy, chiến tranh vẫn khốc liệt, hiểm nguy vẫn luôn rình rập. Ông đã nhiều lần bị thương, trên cơ thể còn lưu lại những vết sẹo – những dấu tích đau thương nhưng cũng là minh chứng cho lòng dũng cảm và sự hy sinh của một người lính.

Tháng 3 năm 1978, ông được cử đi học tại Trường Sĩ quan Đặc công. Thế nhưng, chưa học hết khóa, cuối năm 1978 ông lại phải lên đường trở về đơn vị, tiếp tục chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Ngày 17 tháng 2 năm 1979, ông cùng đồng đội chiến đấu tại Bản Sen, huyện Mường Khương, tỉnh Hoàng Liên Sơn, chống lại quân xâm lược Trung Quốc. Một lần nữa, ông lại bước vào cuộc chiến với tinh thần quả cảm, sẵn sàng hiến dâng tuổi xuân cho Tổ quốc.

Đến năm 1982, vì sức khỏe suy yếu sau nhiều năm chiến đấu và mang trên mình những vết thương chiến tranh, ông xin nghỉ công tác, trở về quê hương sinh sống. Dẫu chiến tranh đã lùi xa, nhưng trên cơ thể ông vẫn còn những vết sẹo hằn sâu – những dấu ấn không thể phai mờ của một thời máu lửa, oanh liệt và hào hùng.

Trên chiếc tủ gỗ nhỏ đặt nơi trang trọng nhất trong nhà, ông cẩn thận gìn giữ những tấm huân chương, huy chương đã theo ông suốt cả một chặng đường chiến đấu. Mỗi tấm huân chương là một dấu son của lòng dũng cảm, là phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước trao tặng cho người lính đã cống hiến tuổi xuân cho Tổ quốc. Với ông, đó không chỉ là niềm tự hào của riêng mình mà còn là ký ức thiêng liêng của một thời trận mạc, là minh chứng cho những năm tháng chiến đấu không tiếc máu xương vì độc lập, tự do của dân tộc. Mỗi lần nhìn những tấm huân chương lấp lánh dưới ánh đèn, em càng hiểu hơn về giá trị của hòa bình hôm nay và càng thêm kính phục người ông thân yêu của mình.

Những câu chuyện của ông không chỉ giúp chúng em hiểu thêm về lịch sử dân tộc mà còn nhắc nhở chúng em phải biết trân trọng cuộc sống hòa bình hôm nay. Ông chính là tấm gương sáng về lòng yêu nước, về ý chí kiên cường và đức hy sinh cao cả để thế hệ chúng em học tập, noi theo.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
KÝ ỨC MỘT THỜI BOM ĐẠN | Câu chuyện thời hoa lửa