KÝ ỨC NĂM THÁNG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
Nguyễn Xuân Lại sinh năm 1953. hiện nay đang cư trú tại thôn Loạc, xã Võ Lao, tỉnh Lào Cai. Đã từng tham gia kháng chiến chống Mỹ tại chiến trường Quảng Trị (Đồi ông Do), tham gia giải phóng thành phố Đà Nẵng.
Tôi là Nguyễn Xuân Lại, sinh năm 1953, sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo của xã Võ Lao. Quê tôi ngày ấy nghèo lắm, cái nghèo bám riết lấy con người từ miếng ăn đến manh áo. Nhà nào cũng quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, trẻ con lớn lên giữa ruộng đồng. Đến năm 1971, khi tôi vừa tròn 18 tuổi, chiến tranh chống Mỹ đang vào giai đoạn khốc liệt nhất. Bom đạn ngày đêm trút xuống miền Trung, miền Nam còn chìm trong khói lửa. Vào háng 8 năm 1971, khi xã phát lệnh gọi thanh niên nhập ngũ, tôi không chần chừ. Tôi nghĩ đất nước đang cần nên mình phải đi thế là tôi lên đường.
Chúng tôi được đưa lên Bắc Thái, huấn luyện tại thành phố Thái Nguyên. Cuộc sống quân ngũ khác hẳn với những gì tôi từng biết. Bốn tháng huấn luyện là bốn tháng vắt kiệt sức người. Chúng tôi tập hành quân đường dài, tập bắn súng, đào công sự, học chiến thuật, tập chịu đói, chịu rét, chịu mưa. Có hôm mưa rét, quần áo ướt hết, ai cũng mệt, nhưng không ai than. Chính những tháng ngày ấy đã rèn cho tôi sức chịu đựng, ý chí và lòng gan dạ, kết thúc huấn luyện, chúng tôi được đánh giá là đủ sức khỏe, đủ khả năng vào chiến trường.
Tôi thuộc Sư đoàn 304, Trung đoàn 9. Đơn vị chúng tôi hành quân từ Bắc vào Thanh Hóa, rồi tiếp tục vượt qua Quảng Bình, tiến vào Quảng Trị – nơi chiến sự đang vô cùng ác liệt.Chúng tôi đóng quân ở khu vực đồi Ông Do, tỉnh Quảng Trị. Đây là vùng đồi núi hiểm trở, rừng rậm, khe suối chằng chịt, địch đóng chốt dày đặc. Công việc của tôi lúc đó là tiếp tế lương thực, thực phẩm cho đại đội. Mỗi lần đi lấy lương thực, chúng tôi phải đi bộ khoảng 4 km đường rừng. Đường đi toàn sự nguy hiểm rình rập, nhiều đoạn phải vừa đi vừa tìm nơi trú ẩn. Vai đeo ba lô nặng khoảng 50kg, tay cầm súng, chân bước mà trong lòng lúc nào cũng căng như dây đàn, vì chỉ cần sơ sẩy là có thể gặp địch bắn bất cứ lúc nào.
Một ngày nọ, như thường lệ, tôi cùng ba đồng chí nữa đi tiếp tế. Mọi việc đang diễn ra bình thường thì bất ngờ bị lính hành quân của địch phát hiện và nổ súng vào phía chúng tôi chúng tôi vừa chạy vừa tránh, lợi dụng địa hình rừng núi để thoát thân. Tim tôi đập thình thịch, tai ù đi vì tiếng súng. May mắn thay, cả bốn người chúng tôi đều thoát được. Chạy về tới căn cứ, thở không ra hơi, chúng tôi báo cáo ngay cho đại đội, nắm được tình hình, đại đội lập tức tổ chức phản kích. Pháo binh và công binh được điều động, bố trí đánh tại một khe suối, nơi đội lính hành quân của địch thường qua lại, trận đánh diễn ra suốt cả buổi chiều. Pháo ta nổ dồn dập, bộ binh xung phong, địch cũng chống trả quyết liệt. Cuối cùng, quân ta giành chiến thắng nhưng mất 4 đồng chí, trong đó 2 người quê Nghệ An, 2 người quê Thanh Hóa. Phía địch chết 6 tên, bắt sống được 4 tên, giải về trung đoàn.
Tháng 2 năm 1972, trinh sát báo về có vị trí thuận lợi để tập kết pháo. Đại đội nhận lệnh đóng chốt gần cửa hang động Ông Do, chúng tôi tiến hành đưa pháo vào căn cứ trong điều kiện vô cùng gian nan. Lúc này, tôi được chuyển sang bộ binh, trực tiếp cầm khẩu trung liên băng to, trách nhiệm nặng nề hơn, hiểm nguy cũng nhiều hơn. Đêm nhận lệnh tấn công động Ông Do, pháo ta bắt đầu nổ. Tiếng súng, tiếng pháo vang dội cả núi rừng. Địch phản kích dữ dội, chúng có pháo nhiều hơn, hỏa lực mạnh hơn. Sáng hôm sau, tôi nghe thấy tiếng máy bay AV-10 gầm rú trên đầu, rồi bom đạn trút xuống như mưa, quân ta chia làm ba mũi tiến công. Địch dùng pháo 82, loại pháo có sức tỏa đạn cực mạnh, bắn lên như những chùm pháo hoa chết chóc. Trận đánh kéo dài suốt một đêm, một ngày, giằng co ác liệt, chưa phân thắng bại.Cuối cùng, cả hai bên đều rút quân để củng cố lực lượng. Nhưng điều không ngờ là địch đã phát hiện ra căn cứ của chúng tôi. Chúng gọi máy bay B-52 đến ném bom, làm sập hầm trú ẩn. Trận bom ấy đã cướp đi 5 đồng chí của chúng tôi. Còn tôi bị thương nặng, được đưa về Trung đoàn 9 điều trị.
Hồi phục sau suốt 24 ngày điều trị, tôi trở lại đơn vị thì được tin địch đã rút khỏi động Ông Do. Tôi tiếp tục nhận nhiệm vụ mới: hành quân vào Đà Nẵng. Chúng tôi men theo đường mòn, đi qua Quảng Nam, Quảng Ngãi, rồi nhận lệnh đánh giải phóng Đà Nẵng. Trung đoàn chúng tôi gồm 3 tiểu đoàn, vừa kéo pháo, vừa tiến công. Trận đánh diễn ra liên tục hai ngày liền, vô cùng ác liệt. Địch bị bắn rơi khá nhiều máy bay nên buộc phải rút lui. Đà Nẵng được giải phóng, nhưng ta cũng hy sinh gần 20 người, mất 2 khẩu pháo. Sau đó, chúng tôi tiến ra bán đảo Sơn Trà để củng cố lực lượng, rồi tiếp tục hành quân vào Quy Nhơn, qua căn cứ Nước Trong, tiến vào Tổng kho Long Bình – Sài Gòn. Từ ngày 28/3/1975, chúng tôi chiến đấu liên tục cho đến ngày 30/4/1975, ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Khi nghe tin Sài Gòn được giải phóng, tôi và những người đồng đội đã rất vui mừng. Sau ngày giải phóng, tôi được về phép 1 tháng. Tháng 8 năm 1976, tôi trở lại Sài Gòn, tiếp tục công tác trong đơn vị, được phân công làm chăn nuôi, tăng gia sản xuất. Đến năm 1977, tôi chính thức trở về quê hương Võ Lao, nơi tôi sinh ra, lớn lên và gắn bó đến hiện tại.



